Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Phát biểu Khai mạc phần Hỏi đáp Báo chí của ông John Hendra – Điều phối viên Thường trú của Liên Hợp quốc tại Việt Nam tại lễ Công bố Báo cáo Phát triển Con người về Giới trong khu vực

In Email

Ngày: 9 tháng 3 năm 2010
Sự kiện: Lễ Công bố Báo cáo Phát triển Con người về Giới trong khu vực
Phát biểu: Ông John Hendra – Điều phối viên Thường trú của Liên Hợp quốc tại Việt Nam

Kính thưa các Quý vị Đại biểu. Thay mặt Liên Hợp quốc tại Việt Nam, cho phép tôi một lần nữa chào mừng Quý vị Đại biểu tham dự Lễ Công bố Báo cáo Phát triển Con người về Giới trong khu vực. Lời đầu tiên, tôi xin phép được giới thiệu các đồng nghiệp trong ban chủ tọa phần hỏi đáp dành cho báo chí sáng nay.

Xin trân trọng giới thiệu với Quý vị một đồng nghiệp của tôi mà Quý vị đã gặp - Bà Setsuko Yamazaki, Giám đốc Quốc gia Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP). Cùng tham dự Lễ Công bố với chúng ta hôm nay có Ông Bruce Campbell, Trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (UNFPA), Bà Rie Vejs-Kjelgaard, Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Bà Suzette Mitchell, Trưởng Đại diện Quỹ Quỹ Phát triển Phụ nữ của Liên Hợp quốc (UNIFEM).

Sau ít phút nữa, chúng tôi sẽ mời quý vị đặt câu hỏi cho các đồng nghiệp trong ban chủ tọa. Song trước khi bắt đầu, xin được giới thiệu vài lời về các vấn đề chính đã nêu trong báo cáo của khu vực áp dụng vào bối cảnh Việt Nam.   

Tôi muốn đề cập tới bốn vấn đề chính.

Vấn đề thứ nhất liên quan tới năng lực cơ bản. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế và giúp người dân thoát khỏi đói nghèo. Ấy thế nhưng,  song song với những thành tựu đã đạt được, ta thấy ở Việt Nam tình trạng bất bình đẳng về kinh tế ngày càng phổ biến và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Khi tình trạng này xảy ra đồng thời với những bất bình đẳng về giới sẽ tạo ra một tình huống là một số phụ nữ và trẻ em gái càng chịu thiệt thòi hơn.  

Tôi xin lấy một ví dụ là mặc dù tỷ lệ nam nữ được đi học trên toàn quốc gần bằng nhau, trong đó nữ sinh chiếm 47% số học sinh tiểu học và học sinh trung học, trẻ em gái của 20% các hộ gia đình nghèo nhất và các em sống trong các cộng đồng dân tộc thiểu số cách biệt với thế giới bên ngoài ít có cơ hội được học hành hơn các em trai. 16% trẻ em gái là dân tộc thiểu số không được phổ cập giáo dục.

Chúng ta cũng biết rằng tình trạng bất bình đẳng giới thậm chí còn xảy ra từ trước khi trẻ em chào đời. Ngày càng nhiều gia đình lựa chọn giới tính khi sinh con: tỷ lệ nam nữ khi sinh trên toàn quốc hiện nay là 112 nam/100 nữ, tỷ lệ này đã tăng lên từ tỷ lệ của năm 2006 là 110 nam/ 100 nữ. Và tỷ lệ đó ở một số vùng còn cao hơn nhiều, như ở vùng Đông-Bắc Việt Nam lên tới 120 nam/100 nữ.  

Vấn đề thứ hai liên quan đến quyền năng kinh tế, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh rất cao, chiếm 46,6% trong lực lượng lao động. Những gì họ đã cống hiến khi làm việc ở cơ quan cũng như những đóng góp vào việc nhà không có thu nhập có lợi cho chính bản thân gia đình họ và cho toàn xã hội.  

Song phần lớn công ăn việc làm ở Việt Nam đều từ khu vực không chính thức, bấp bênh và không được hưởng chế độ an sinh xã hội. Phụ nữ chủ yếu làm các công việc không ổn định: tỷ lệ phụ nữ trong lực lượng lao động làm các công việc không ổn định là 78% .

Phụ nữ làm việc nhiều giờ hơn song lại chỉ nhận được khoảng 87% mức lương bình quân của nam giới. Cống hiến nhiều cho gia đình nhưng họ không có nhiều tiếng nói trong việc ra quyết định trong gia đình hoặc không được sở hữu và kiểm soát các tài sản như đất đai, công ty hoặc các tài sản lớn.

Vấn đề thứ ba là Việt Nam hiện đang có nhiều tiếng nói trên chính trường. Ở cấp quốc gia, nhất là so với các nước khác trong khối ASEAN, phụ nữ chiếm 25,8% tổng số Đại biểu Quốc hội.  

Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào quá trình ra quyết định cấp cao trong Đảng hoặc Nhà nước chưa cao: Chỉ có duy nhất Một nữ bộ trưởng và trong số 82 thứ trưởng chỉ có 5 người là nữ.  

Và trong khi tỷ lệ phụ nữ tham gia vào quá trình ra quyết định ở cấp địa phương đã tăng lên, phụ nữ giữ các cương vị lãnh đạo ở cấp cao nhất vẫn còn hiếm và thường chiếm tỷ lệ không cao trong các quá trình lập kế hoạch ở cấp địa phương.  

Vấn đề cuối cùng tôi muốn đề cập là Việt Nam đã đạt được những thành tích xuất sắc khi chính thức công nhận và bảo vệ quyền hợp pháp cho phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới.  

Dù vậy, bạo lực đối với phụ nữ vẫn còn là một vấn đề nhức nhối ở Việt Nam cũng như trong khu vực. Theo một điều tra do Tổng cục thống kê phối hợp với UNICEF thực hiện năm 2006 về phụ nữ và trẻ em, 64% phụ nữ Việt Nam nói khi lập gia đình họ chấp nhận và coi bạo lực là chuyện bình thường. Sự im lặng và kỳ thị bao trùm nạn bạo lực đối với phụ nữ lớn tới mức nhiều phụ nữ sợ không dám nói ra hoặc không dám phá bỏ quan hệ bạo lực đó. Một số hình thức bạo lực như cưỡng bức tình dục và quấy rối tình dục vẫn chưa được thảo luận công khai.   

Mặc dù đã có khuôn khổ pháp luật và chính sách để bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam, trên thực tế phụ nữ thường khó thực hiện những quyền này. Chẳng hạn, cho dù trong Luật Đất đai đã có điều khoản quy định song khoảng 2/3 Giấy Chứng nhận Sở hữu Đất vẫn đứng tên nam giới. Và ở Việt Nam, phụ nữ vẫn gặp phải những rào cản nhất định trên đường đi tìm công lý do sợ gặp phải nạn tham nhũng hoặc phân biệt đối xử, đồng thời thiếu hiểu biết về quyền hợp pháp mà mình được hưởng.

Tôi thấy Việt Nam đã có rất nhiều dấu hiệu thay đổi đáng khích lệ. Chính phủ đã và ngày càng cam kết mạnh mẽ hơn trong vấn đề đạt được bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.  Đã có phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo cấp cao trong Quốc hội và trong kink doanh. Đồng thời, xã hội ngày càng tham gia nhiều hơn vào các cuộc tranh luận về chính sách nhà nước liên quan đến các vấn đề nêu trên.    

Mặc dù vậy, chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để đảm bảo phụ nữ có tiếng nói bình đẳng trong các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, được quyền bình đẳng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực kinh tế, có quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ.   

Cho phép tôi được kết thúc ở đây vì tôi biết các đồng nghiệp của tôi có mặt ngày hôm nay còn nhiều điều muốn nói về các thách thức cụ thể mà chúng ta cần vượt qua cũng như các can thiệp và giải pháp cần thực hiện.

Xin chân thành cảm ơn Quý vị đã quan tâm theo dõi!