Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Phát biểu của Ông Patrick J. Gilabert Trưởng đại diện tại hội thảo khởi động dự án “Triển khai Sáng kiến Khu công nghiệp Sinh thái hướng tới Mô hình Khu công nghiệp Bền vững tại Việt Nam”

In Email

Thời gian: Ngày 17 tháng 10 năm 2014

Địa điểm: Khách sạn Melia, Hà Nội, Việt Nam


  • Kính thưa Ngài Nguyễn Văn Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
  • Kính thưa Ông Đỗ Nam Thắng, Đầu mối tác nghiệp của Quỹ GEF tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường
  • Kính thưa các đồng nghiệp từ Vụ Quản lý các Khu Kinh tế, Bộ KHĐT
  • Kính thưa Ông Miroslav Delaporte, Giám đốc SECO tại Việt Nam
  • Kính thưa các vị lãnh đạo của Tỉnh Ninh Bình, Thành phố Đà Nẵng, và Thành phố Cần Thơ
  • Kính thưa Ông Giám đốc Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam, VEPF
  • Kính thưa đại diện các cơ quan đối tác của dự án
  • Kính thưa các đồng nghiệp từ Trụ sở UNIDO
  • Kính thưa Quý vị đại biểu,

Tôi rất vui mừng được cùng quý vị tham dự hội thảo quan trọng này, hội thảo khai trương việc triển khai thực hiện sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công nghiệp bền vững tại Việt Nam.

Cho phép tôi mở đầu bằng việc chào mừng sự có mặt của tất cả quý vị tại hội thảo đánh dấu ngày đầu tiên thực hiện dự án quan trọng này tại Việt Nam.

Như quý vị đều biết, những thách thức đối với môi trường mà các khu công nghiệp tại Việt Nam phải đối diện là rất nhiều và rất phức tạp: những thách thức này xuất phát từ việc thiếu vốn đầu tư, từ quá trình cung ứng và sử dụng các nguồn tài nguyên, từ việc xử lý các loại chất thải rắn, khí thải, nước thải khác nhau. Các thách thức này đã được xác định trong nhiều công trình nghiên cứu và báo cáo liên quan.

Ví dụ, năm 2006, Bộ Công Thương phát hành báo cáo "Thực trạng trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp" (TDCN-BCN). Báo cáo cho thấy có bất cập giữa công nghệ và vốn đầu tư trong một số ngành công nghiệp. Năm 2012, báo cáo "Đánh giá Nhu cầu Công nghệ để Giảm nhẹ Biến đổi Khí hậu" tại Việt Nam (TNA 2012) cho rằng các công nghệ sử dụng năng lượng đều đã lạc hậu, do trang thiết bị lỗi thời dẫn tới mức tiêu thụ năng lượng cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với mức chuẩn trong khu vực.

Trước tình hình này, năm 2008 Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt "Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu" (NTP), với mục tiêu xây dựng các kế hoạch hành động khả thi để ứng phó với biến đổi khí hậu và sử dụng các công nghệ phát thải ít carbon.

Năm 2012, Chính phủ Việt Nam cũng thông qua "Chiến lược Tăng trưởng Xanh" quốc gia (1393/QD-TTg) cho giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2050. Tăng trưởng xanh được xem là phương thức giúp kiến tạo được một nền kinh tế phát thải ít carbon và sẽ trở thành xu hướng phổ biến trong phát triển kinh tế bền vững.

Cũng trong năm 2012, Chính phủ Việt Nam tiếp tục phê chuẩn Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2012-2015 (1427/QD-TTg). Một mục tiêu quan trọng của chương trình là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đầu cuối trong sản xuất đại trà theo kiểu công nghiệp và xúc tiến sử dụng các trang thiết bị và phương tiện sản xuất có hiệu suất cao.

Chúng ta cũng cần nhắc đến "Chương trình quốc gia về Sản xuất và tiêu dùng bền vững" (NPSCP) 2010-2020. Chương trình này ưu tiên việc xây dựng các cơ chế và công cụ chính sách có liên quan đến hiệu quả sử dụng năng lượng, nước và nguyên liệu thô trong ngành công nghiệp, và xúc tiến nền kinh tế 3R nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và giảm thiểu chất thải.

Cuối cùng, LHQ tại Việt Nam và Bộ KHĐT phê chuẩn "Kế hoach Một LHQ 2012-2016", ký kết tháng 3 năm 2012, "khu công nghiệp sinh thái" được xác định trong Kết quả 1.4 (các chương trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn và quản lý môi trường, và thực hiện các cam kết đưa ra trong các công ước quốc tế), Kết quả đầu ra 1.4.1 (phát triển kinh tế xanh, quản lý tài nguyên thiên nhiên và sản xuất sạch hơn), hành động chính 3 (Hỗ trợ xây dựng thêm các mô hình/công nghệ sử dụng tài nguyên hiệu quả và sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, nông nghiệp, và thủ công nghiệp).

Trên cơ sở khung hành động này, mục tiêu của dự án là tăng cường chuyển giao, triển khai và phổ biến các công nghệ và phương pháp thực hành phát thải ít carbon để giảm thiểu phát thải khí, các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) và các chất gây ô nhiễm nước, cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng nước và quản lý tốt hóa chất trong các khu công nghiệp (KCN) của Việt Nam.

Nói cách khác, dự án hướng tới việc chuyển đổi các khu công nghiệp thành các khu công nghiệp sinh thái.

Dự án được thiết kế nhằm tạo ảnh hưởng lâu dài bằng việc xúc tiến các phương pháp sản xuất công nghiệp toàn diện và bền vững trong các khu công nghiệp (KCN) thông qua hợp tác giữa các công ty trong các lĩnh vực như cải tiến các hệ thống năng lượng, quản lý chất thải, giảm lưu lượng nước, quản lý khu công nghiệp, và hài hòa với cộng đồng tại địa phương có KCN. Dự án được cơ cấu thành bốn hợp phần kỹ thuật và sáu kết quả.

Hợp phần 1 sẽ hoàn thiện chính sách và hướng dẫn giúp chuyển đổi khu công nghiệp (KCN) thành khu công nghiệp sinh thái (KCNST). Hợp phần 2 sẽ tăng cường năng lực xây dựng chiến lược và biện pháp cho khu công nghiệp sinh thái (KSTCN). Hợp phần 3 sẽ xác định các dự án thí điểm về khu công nghiệp sinh thái (KSTCN), và Hợp phần 4 sẽ thực hiện các dự án thí điểm này tại các khu công nghiệp và cộng đồng xung quanh và phổ biến thông tin liên quan.

Xây dựng được dự án lớn này là nhờ có cam kết của các cơ quan thẩm quyền của Việt Nam, đứng đầu là Bộ KHĐT, nhờ có hỗ trợ của UNIDO và hỗ trợ tài chính của GEF5, SECO và các cơ quan đối tác địa phương. Điều này minh chứng cho quan hệ hợp tác, đối tác lâu dài với GEF, Bộ KHĐT của Việt Nam, và SECO.

Về quan hệ đối tác với GEF: UNIDO tại Việt Nam đã thực hiện hai dự án nhận tài trợ của Chu kỳ GEF4, một về sử dụng năng lượng hiệu quả trong công nghiệp, với Bộ Công Thương, và một về chất thải POP, với Bộ Tài nguyên và Môi trường, với tổng ngân sách 1,6 triệu USD và nguồn vốn đồng tài trợ 8 triệu USD. Trong khuôn khổ Chu kỳ GEF5, hiện có 4 dự án đang được thực hiện, một là sử dụng năng lượng hiệu quả và đánh giá thủy ngân Minamata, (với Bộ Công Thương), và một về giảm thiểu chất thải POP và phát thải ODS (với Bộ TNMT), với tổng ngân sách 3,7 triệu USD, nguồn vốn đồng tài trợ 13,2 triệu USD. Dự án Khu công nghiệp sinh thái là dự án thứ năm được Chu kỳ GEF5 tài trợ cho UNIDO tại Việt Nam.

Về quan hệ hợp tác lâu dài với Bộ KHĐT: UNIDO đã hợp tác từ rất lâu với Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Chúng tôi vừa hoàn thành dự án hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp (với Cục Phát triển doanh nghiệp) và dự án hỗ trợ xúc tiến đầu tư (với Cục Đầu tư nước ngoài). Gần đây, chúng tôi khai trương Giai đoạn III của dự án đăng ký kinh doanh với Cục Đăng ký Kinh doanh. Vì thế chúng tôi rất vui được triển khai dự án do GEF tài trợ này cùng với Bộ KHĐT, là cơ quan đã cống hiến rất nhiều cho việc thực hiện "Chiến lược Tăng trưởng Xanh của Việt Nam".

Về quan hệ đối tác lâu dài với SECO: UNIDO và SECO có một thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn cầu trong đó Việt Nam đóng vai trò chủ đạo. Tại Hà Nội, SECO đã tài trợ cho dự án chung UNIDO-UNEP thành lập Trung tâm Sản xuất Sạch Việt Nam (khai trương năm 1996). Chúng tôi cùng hợp tác trong 7 dự án về những chủ đề quan trọng như cải cách đăng ký kinh doanh, sử dụng tài nguyên hiệu quả và sản xuất sạch hơn (ở cấp toàn cầu và quốc gia) và xây dựng năng lực thương mại cho xuất khẩu. Với ngân sách 1 triệu USD dành cho dự án khu công nghiệp sinh thái, SECO cho thấy cam kết của mình trong việc tiếp tục hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại Việt Nam.

Nhờ có mối quan hệ hợp tác/đối tác chặt chẽ như vậy, chúng tôi đã huy động được nguồn lực tài chính rất hiếm có, liên kết giữa GEF5 (3,5 triệu USD), SECO (1 triệu USD), UNIDO, các cơ quan chính phủ ở cấp quốc gia (Bộ KHĐT, Bộ CT, Bộ KHCN), chính quyền các địa phương (Cần Thơ, Đà Nẵng và Ninh Bình), Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam (VEPF), và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) với tổng ngân sách 53,4 triệu USD.

Với vai trò chủ đạo của Bộ KHĐT, chúng tôi hy vọng ngân sách này sẽ có tác động lớn ở cấp quốc gia và tại các tỉnh/thành phố mục tiêu của dự án là Cần Thơ, Đà Nẵng và Ninh Bình. Tôi tin rằng việc kết nối tất cả các bên đối tác tham gia dự án như Bộ KHĐT, Bộ CT, Bộ KHCN, Bộ TNMT, UBND Thành phố Đà Nẵng, UBND Thành phố Cần Thơ, UBND Tỉnh Ninh Bình cùng hợp tác vì một mục tiêu chung sẽ là một nhân tố dẫn đến thành công cho dự án.

Để kết thúc, tôi xin chúc tất cả quý vị dồi dào sức khỏe, xin chúc cho hội thảo hôm nay và việc thực hiện dự án trong 3 năm tới thành công tốt đẹp.

Xin cám ơn quý vị.

Xem tiếp...