Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Phát biểu của bà Katherine Muller-Marine, Trưởng dại diện UNESCO tại Việt Nam trong hội nghị Quốc tế Mạng lưới Công viên Địa chất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Hà Nội, Việt Nam

In Email

Ngày: Monday, 18 July 2011

Sự kiện: Hội nghị Quốc tế Mạng lưới Công viên Địa chất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Hà Nội, Việt Nam

Địa điểm: Nhà hát lớn Hà Nội, Số 1 Tràng Tiền- Q.Hoàn Kiếm Hà Nội

Diễn giả: Katherine Muller-Marin, trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam

Tiêu đề: Vai trò của UNESCO và Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam trong việc hỗ trợ nỗ lực của các quốc gia thành viên trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di sản, ví dụ ở Việt Nam

Kính thưa Ông Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Thưa các vị đại biểu Việt Nam

Thưa các vị đại biểu quốc tế

Các vị đại diện các cơ quan thông tấn báo chí

Thưa toàn thể quý vị:

Thay mặt cho UNESCO, tôi rất vinh dự được có mặt tại đây, ngày hôm nay để chào đón các bạn tới tham dự Hội nghị Quốc tế lần thứ II Mạng lưới Công viên Địa chất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Chủ đề của Hội nghị lần này “Công viên địa chất và du lịch địa chất trong phát triển bền vững khu vực” – báo hiệu một hướng đi mới đầy hứa hẹn cho việc phát triển Công việc Địa chất ở các quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Từ khi Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu được thành lập, UNESCO đã có những hỗ trợ cho các sáng kiến Công viên Địa chất quốc gia được điều phối thông qua Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu. Ở Việt Nam, chúng tôi rất vinh hạnh hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, đặc biệt với Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Việt Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Chương trình Con người và Sinh quyển trong việc thúc đẩy và hệ thống hóa việc phát triển mô hình này – mô hình kết hợp hài hoà giữa bảo tồn địa chất, môi trường, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, sự tham gia của cộng đồng và phát triển bền vững.

Tôi không thể diễn đạt hết cảm xúc vinh dự của tôi khi tôi được tham dự buổi lễ trang trọng trao bằng chứng nhận Cao nguyên đá Đồng Văn là thành viên của Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu cho lãnh đạo tỉnh Hà Giang. Cao nguyên đá Đồng Văn là Công viên Địa chất Toàn cầu đầu tiên của Việt Nam và thứ hai của khu vực Đông Nam Á. Thật vui mừng khó tả khi chứng kiến hàng ngàn người dân địa phương, trên khuôn mặt ngời lên niềm tự hào, từ gần xa nô nức đến dự buổi lễ được phát sóng trực tiếp trên truyền hình quốc gia và sân khấu được dựng mô phỏng khung cảnh tự nhiên của Công viên Địa chất.

Sự hiện diện của đông đảo người dân địa phương đồng thời là một lời nhắc nhở những kỳ vọng của họ về một cuộc sống tốt đẹp hơn khi Công viên Địa chất được hình thành và phát triển.

Công viên Địa chất – như Cao nguyên Đá Đồng Văn ở Việt Nam – thúc đẩy một khái niệm tích hợp về bảo vệ nhằm mục đích bảo tồn các di sản và đặc điểm địa chất nổi bật trong khi vẫn khuyến khích các cơ hội giáo dục và hoạt động phát triển kinh tế xã hội.

Mô hình này đặc biệt có ý nghĩa đối với các khu vực nông thôn, miền núi, nơi cộng đồng dân cư dễ bị tổn thương và đời sống khó khăn. Việc thành lập Công viên Địa chất, và các hình thức Du lịch Địa chất và Sản phẩm Địa chất kèm theo có thể mang lại những cơ hội phát triển bền vững mới cho cộng đồng dân cư đang cần được hỗ trợ.

Trong số các cộng đồng sống trên các địa bàn nằm trong hoặc xung quanh Công viên Địa chất và các khu vực bảo tồn khác, UNESCO đặc biệt quan tâm tới vai trò của các nhóm dân tộc thiểu số. Hàng bao thế kỉ qua, các dân tộc thiểu số đã sinh sống trên những vùng đất này, đồng thời sử dụng kiến thức truyền thống để gìn giữ đất mẹ cho con cháu đời sau. Giờ đây, khi các vùng đất trên toàn thế giới được đặt dưới sự bảo hộ của chính phủ, cần đảm bảo rằng các dân tộc thiểu số và cộng đồng địa phương được tham gia vào quá trình quản lý khu vực mà họ sinh sống cũng như tiếp tục được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hoá của khu vực đó. Chúng ta cũng cần đảm bảo các di sản phi vật thể của họ (bao gồm phong tục tập quán, truyền thống, kiến thức, lối sống và các tập quán khác) được xem xét và tôn trọng bởi các quan chức chính phủ, du khách, và mọi cá nhân khác có liên quan.

Họ phải có khả năng tự quyết định cách thức bảo tồn và chia sẻ nền văn hoá, ca múa, âm nhạc, sản phẩm, thực phẩm và phong tục, tập quán cũng như cách thức củng cố bản sắc văn hoá của họ - đây là giải pháp duy nhất để họ truyền lại bản sắc văn hoá cho các thế hệ tương lai. Chúng ta không nên biến họ thành một đối tượng chỉ để du khách nhìn ngắm. Chúng ta cần tạo điều kiện để họ tiếp tục cảm nhận rằng họ thuộc về vùng đất đã trở thành quê hương của bao thế hệ dân tộc họ, và tiếp tục sử dụng những phong tục, tập quán và kiến thức của mình để quản lý Công viên Địa chất và phát triển sinh kế cho các thành viên cộng đồng.

Quá trình quản lý và phát triển Công viên Địa chất có nhiều điểm chung với các sáng kiến bảo tồn di sản của UNESCO. Việt Nam là một ví dụ điển hình về hiệu quả phối hợp cụ thể giữa sáng kiến Công viên Địa chất, Di sản Thế giới của UNESCO và Chương trình Con người và Sinh quyển.

Cán bộ quản lý Công viên Địa chất Đồng Văn đã tham dự các hội thảo cùng các nhà quản lý các khu Di sản Thế giới và khu Dự trữ Sinh quyển. Tại các hội thảo này, các thành viên đã cùng soạn thảo các kế hoạch quản lý, thảo luận về các sáng kiến sinh kế địa phương, lập kế hoạch có sự tham gia và chiến lược du lịch bền vững. Gần đây, Đồng Văn đang có kế hoạch thông qua một chương trình quản lý tích hợp khu vực dựa trên kế hoạch đã được các khu Dự trữ Sinh quyển Việt Nam phát triển và báo cáo chiến lược mà Phái đoàn Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu soạn thảo cho Công viên Địa chất Đồng Văn nhằm hỗ trợ tăng cường phối hợp ở cấp tỉnh.

Ngoài các hoạt động trên, Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam đã mời Ban Quản lý Công viên Địa chất tham dự hội nghị thường niên các ban quản lý khu Di sản Thế giới, khu Dự trữ Sinh quyển và Công viên Địa chất. Tại đây, các thành viên chia sẻ những câu chuyện thành công và bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình bảo tồn và phát triển bền vững của từng khu. Hội nghị thường niên 2011 sẽ diễn ra vào chiều ngày mai và tôi đánh giá cao những nỗ lực không ngừng của Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam trong việc hỗ trợ các khu bảo tồn.

UNESCO và Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam đã thiết lập một mạng lưới liên lạc dựa trên thư điện tử (email) mà cho tới gần đây đã có trên 70 thành viên đến từ tất cả các khu dự trữ sinh quyển, di sản thiên nhiên thế giới và công viên địa chất của Việt Nam. Mạng lưới là một kênh hữu hiệu nhằm chia sẻ thông tin và các nguồn lực và tổ chức thảo luận về các chủ đề bảo tồn ví dụ đánh giá tác động môi trường của nhà máy thuỷ điện đang đề xuất xây dựng trên sông Đồng Nai.

Năm nay, UNESCO tại Việt Nam, Uỷ ban Công viên Địa chất thuộc Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, và Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu đã nhất trí thiết lập quan hệ đối tác trong việc “Thúc đẩy hình thành Công viên Địa chất và phát triển Du lịch Địa chất ở Việt Nam”. Quan hệ đối tác tương tự cũng được thiết lập với MAB Việt Nam trong việc thúc đẩy “bảo tồn cho phát triển, phát triển để bảo tồn trong các khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam”.

 

Trọng tâm các hoạt động bảo tồn và phát triển của UNESCO tiến hành ở các khu Di sản Thế giới và khu Dự trữ Sinh quyển là tăng cường sự tham gia của các bên tham gia địa phương vào quá trình quản lý. Trong mọi hoạt động can thiệp, chúng tôi đều hỗ trợ phương pháp tiếp cận văn hoá thích hợp nhằm thúc đẩy sự cân bằng giữa bảo tồn và sinh kế của cộng đồng địa phương. Phương pháp tiếp cận này cũng quan trọng không kém đối với Công viên Địa chất và Du lịch Địa chất, và UNESCO sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm đó với Công viên Địa chất Đồng Văn và các Công viên Địa chất khác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Năm 2009, chúng tôi đã tổ chức một số hội thảo với sự tham gia của các thành viên ban quản lý đại diện cho tất cả các khu Di sản Thiên nhiên Thế giới và khu Dự trữ Sinh quyển của Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tập quán địa phương và cách thức tích hợp những yếu tố này trong bảo tồn và quản lý mỗi khu vực. Năm ngoái, chúng tôi đã cùng làm việc với cán bộ các khu cũng như cộng đồng địa phương để xác định những mâu thuẫn nảy sinh giữa tập quán địa phương và cơ chế quản lý từ đó đề xuất các giải pháp mang lại lợi ích cho cả hai bên. Trong bối cảnh mới thành lập Công viên Địa chất, ngoài các khu Di sản Thiên nhiên Thế giới và khu Dự trữ Sinh quyển, sẽ rất đơn giản để mở rộng các hoạt động kể trên cho đối tượng Công viên Địa chất.

Sau đây, tôi muốn chia sẻ với các bạn một số ví dụ có thể hữu ích cho các cuộc thảo luận của các bạn.

Ví dụ thứ nhất, ở khu Dự trữ Sinh quyển Cù lao Chàm, cư dân địa phương được phép tiếp cận rất hạn chế với các nguồn tài nguyên biển trong khu vực bảo tồn, và thu nhập của họ từ dịch vụ du lịch rất ít ỏi, chỉ bằng một nửa lợi nhuận của các công ty du lịch. Để giải quyết tình trạng này, ban quản lý đã thảo luận với các ngư dân và phụ nữ cư ngụ trên cù lao nhằm xây dựng một phương pháp và công cụ nghiên cứu để thực hiện các nghiên cứu đơn giản và tổ chức thảo luận mở với các thành viên cộng đồng về việc làm thế nào để người dân được hưởng lợi thoả đáng hơn từ phát triển du lịch.

Những buổi thảo luận này đã tăng cường hiểu biểt của những người tham gia về giá trị đặc hữu của cù lao và giúp họ xác định phương thức phù hợp nhằm bảo vệ những giá trị này, đồng thời sử dụng chúng để phát triển các sản phẩm du lịch. Trên thực tế, những người tham gia đã soạn thảo đề xuất thành lập các nhóm dựa vào cộng đồng hoạt động trong một số lĩnh vực, ví dụ như hình thức khách du lịch ở tại nhà người dân địa phương (home stay), hướng dẫn du lịch, nhà hàng, và thiết lập một cơ chế giúp các nhóm này chủ động tham gia và hưởng lợi nhiều hơn từ việc phát triển du lịch trên cù lao.

Một ví dụ khác ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cát Tiên, hiện đã nâng cấp thành Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai – sau khi mở rộng diện tích – nơi đây, dân tộc Choro (hay còn gọi là Chơ-ro, Châu Ro…) sinh sống dựa vào các sản phẩm phi gỗ của rừng với kho tàng tri thức truyền thống về phương pháp thu hái đã lưu truyền qua bao thế hệ. Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm này đều được khai thác từ hai khu vực bảo tồn trên địa bàn khu DTSQ và như vậy theo quy định bảo tồn, các hoạt động này bị coi là vi phạm pháp luật. Trong bối cảnh đó, cả sinh kế cũng như việc gìn giữ những tập quán truyền thống của dân tộc Chơ-ro đều bị đe doạ. Cuối cùng, giải pháp lựa chọn là cùng nhau thảo luận giữa một bên là cán bộ quản lý và một bên là đại diện dân tộc Chơ-ro, kết quả là một mô hình chia sẻ lợi ích được đề xuất nhằm đẩy mạnh hình thức thu hái hợp pháp, bền vững các sản phẩm rừng trong khu vực.

Năm nay, chúng tôi tiếp tục hỗ trợ một số sáng kiến, trong đó có hai sáng kiến tôi vừa đề cập ở trên, và giám sát tiến trình thực hiện của các khu. Trong những tháng tiếp theo, mục tiêu của chúng tôi là thu thập và tổng hợp những kinh nghiệm này thành một tài liệu hướng dẫn đề xuất các lựa chọn nhằm cân bằng giữa bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển sinh kế cộng đồng sau đó chia sẻ tài liệu này cho các khu bảo tồn của Việt Nam. Đây sẽ là công cụ vô giá cho các cán bộ quản lý Công viên Địa chất trong bối cảnh họ đang phải đối mặt với các thách thức làm sao tích hợp các hoạt động sinh kế địa phương với các nỗ lực bảo tồn và phát triển. Thay mặt UNESCO, một tổ chức thành viên của Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ các bạn trong lĩnh vực này.

Phần lớn hoạt động của UNESCO tập trung vào mức độ chính sách và kinh nghiệm của chúng tôi về các khu Dự trữ Sinh quyển và Di sản Thế giới đã chứng minh tầm quan trọng của luật pháp đối với các sáng kiến bảo tồn và phát triển. Trong tiến trình hình thành và phát triển các Công viên Địa chất của các quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cần thiết phải tăng cường tính chặt chẽ của luật pháp quốc gia đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩn của Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu, đó là bảo tồn di sản trên phạm vi lãnh thổ đồng thời duy trì quyền lợi của các bên tham gia và cộng đồng địa phương.

Khu Dự trữ Sinh quyển, Công viên Địa chất và Di sản Thế giới đều hàm chứa tính đa dạng và được quản lý bởi nhiều quy định và công cụ chính sách khác nhau. Mặc dù đã có rất nhiều chủ trương, chính sách và tiêu chuẩn, vẫn có báo cáo của các nhà quản lý khu vực nêu rõ hoạt động thực tiễn của họ gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân phổ biến do (1) quy định không rõ ràng, đôi khi mâu thuẫn; (2) năng lực hạn chế của các quan chức địa phương trong việc truyền đạt và áp dụng chính xác các quy định, và (3) người dân địa phương ít có điều kiện tiếp cận các thủ tục pháp lý. Chúng tôi hiện đang triển khai nghiên cứu nhằm hỗ trợ các nhà quản lý và cộng đồng địa phương trong nỗ lực giải quyết thách thức thứ hai và thứ ba thông qua các biện pháp có sự tham gia, còn lại thách thức đầu tiên sẽ được giải quyết thông qua đối thoại chính sách.

Sự phức tạp và đa dạng của cơ cấu quản lý các khu bảo tồn khác nhau này yêu cầu cần có một phương pháp tiếp cận nâng cao năng lực linh hoạt. Trong khi các khu Di sản Thế giới đã có một cơ cấu tổ chức quản lý khá rõ ràng, các khu Dự trữ Sinh quyển và Công viên Địa chất lại vận hành dựa trên một cơ cấu mang tính hợp tác, trên cơ sở phối hợp giữa các cơ quan cấp tỉnh. Chúng tôi cho rằng các khu bảo tồn của Việt Nam nên thảo luận về một khuôn khổ chung trong quản lý khu vực, quản lý du lịch, và sự tham gia của cộng đồng địa phương.

Về mặt du lịch chất lượng, Công viên Địa chất tạo cơ hội đáng chú ý cho sự phát triển kinh tế xã hội thông qua Du lịch Địa chất. Kinh nghiệm của UNESCO cho thấy, trước hết, phát triển du lịch bền vững yêu cầu cần có hiểu biết sâu rộng và phát huy tối đa giá trị di sản.

Công viên Địa chất nên tìm cách thúc đẩy nghiên cứu khoa học xã hội trên địa bàn khu vực và coi đây là phương tiện mở rộng kiến thức về di sản văn hoá tự nhiên của chính mình. Chia sẻ các kết quả nghiên cứu với cộng đồng địa phương và đông đảo công chúng sẽ tăng cường hơn nữa nhận thức về giá trị của Công viên Địa chất và tầm quan trọng của nỗ lực bảo vệ của cộng đồng. Hơn thế nữa, hiểu biết chính xác sẽ giúp cải thiện năng lực ra quyết định theo hướng ngày càng thích hợp với hoàn cảnh văn hoá và môi trường.

Bằng cách xây dựng mối quan hệ đối tác với các trường đại học và các viện nghiên cứu, Công viên Địa chất cũng đồng thời thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững của chính mình. Các cuộc điều tra, khảo sát Công viên Địa chất do các học giả tiến hành sẽ thu hút tài trợ góp phần phát triển Công viên Địa chất, thúc đẩy tăng trưởng du lịch có trách nhiệm và thu hút các du khách như các nhà nghiên cứu, giáo sư, và sinh viên, cũng như tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng địa phương. Vì vậy, Công viên Địa chất có thể hưởng lợi từ du lịch chất lượng cao, ít tác động đồng thời nâng cao hiểu biết về giá trị di sản thông qua các kết quả nghiên cứu nhằm cải thiện hiệu quả quản lý.

Tóm lại, UNESCO khuyến khích việc củng cố hơn nữa Mạng lưới Công viên Địa chất khu vực Chấu Á – Thái Bình Dương như một phương thức hướng tới đồng thời hai mục tiêu: phát triển bền vững và bảo tồn di sản, phương thức này sẽ đặc biệt có lợi cho các khu vực nghèo đói, các khu vực vùng sâu, vùng xa nơi các dân tộc thiểu số sinh sống. Do đó, Công viên Địa chất, Di sản Thế giới và khu Dự trữ Sinh quyển có thể góp phần cho nỗ lực đạt được các Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc bằng cách thể hiện vai trò tích cực trong việc áp dụng các chiến lược xoá đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, với tiềm năng phát triển của Công viên Địa chất trong những năm tới, cần đảm bảo rằng phát triển kinh tế - xã hội ở những khu vực này cần phải được quản lý chặt chẽ nhằm bảo vệ và duy trì giá trị di sản và địa chất đã được công nhận.

Để hỗ trợ phương thức phát triển này, UNESCO, Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu, và các đối tác quốc tế cũng như trong nước cần chung tay, góp sức thực hiện lời hứa mới Công viên Địa chất mang lại lợi ích phát triển bền vững trong thế kỷ 21.

Là người đang sống tại Việt Nam, tôi chúc các bạn trao đổi được nhiều kinh nghiệm, sức khỏe tốt, thành công, hạnh phúc và có những ngày ấn tượng ở đất nước tuyệt vời này.
Cảm ơn các bạn!