UN Reform

“Đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế và giảm nghèo” - Tuyên bố của các Tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam trong Hội nghị Tư vấn các Nhà tài trợ tháng 12 năm 2011

In Email

Ngày: 06 December 2011
Sự kiện: Hội nghị Tư vấn các Nhà tài trợ
Địa điểm: Millennium Meeting Hall, Grand Plaza, Hà Nội

Giới thiệu

Sáu tháng cuối năm 2011 đã đánh dấu một thời kỳ mới trong quá trình phát triển của Việt Nam. Quốc hội Khóa 13 đã tổ chức kỳ họp thứ nhất vào tháng 7/2011, và một Chính phủ mới, bao gồm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và bộ máy lãnh đạo Nhà nước, đã được bổ nhiệm trong tháng 8/2011. Với việc phê duyệt Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (KHPT KTXH) giai đoạn 2011-2015 vào tháng trước, Việt Nam hiện đã xác định được đường hướng cho 5 năm sắp tới.

KHPT KTXH nêu bật yêu cầu phải có một mô hình tăng trưởng mới trong bối cảnh Chính phủ đang nỗ lực giải quyết sự tái diễn các giai đoạn bất ổn định kinh tế vĩ mô, tạo đủ việc làm nhằm thu nhận những người mới tham gia vào thị trường lao động, đồng thời duy trì thực hiện các mục tiêu giảm nghèo. Liên Hợp Quốc (LHQ) hoan nghênh việc KHPT KTXH đặt trọng tâm vào yêu cầu bảo đảm tốt hơn sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, giải quyết các tình trạng dễ bị tổn thương và bất bình đẳng, đồng thời thúc đẩy công bằng xã hội. Năm 2011 đã chứng kiến những thách thức đặt ra đối với những kỳ vọng này. Tình hình kinh tế toàn cầu và trong nước có nhiều biến động tiếp tục thách thức sự tăng trưởng và tiến bộ của Việt Nam.

Thách thức phía trước không phải chỉ tập trung vào việc đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn cần phải đảm bảo phát triển cho tất cả mọi người, phát triển xanh và phát triển vì người nghèo, qua đó thúc đẩy phát triển cân bằng giữa thành thị và nông thôn, đồng thời tạo việc làm cho người nghèo. Việt Nam hiện đang trải qua những thay đổi nhanh chóng về mặt kinh tế - xã hội, trong đó có tốc độ đô thị hóa nhanh và làn sóng di cư lớn, những thay đổi về cơ cấu dân số với việc tăng dân số trẻ trong thời gian gần đây và tiếp theo sẽ là hiện tượng dân số già đi nhanh chóng đến năm 2050. Bất bình đẳng gia tăng đi kèm với những hình thái nghèo đói và dễ bị tổn thương mới, và đất nước ngày càng phải gánh chịu hậu quả nặng nề của thiên tai và biến đổi khí hậu. Trong giai đoạn sắp tới Việt Nam sẽ phải chú ý nhiều hơn tới việc giải quyết tình trạng nghèo cố hữu và nghèo kinh niên, cũng như các hình thái nghèo đói và tổn thương mới nảy sinh, như nghèo ở đô thị và nghèo ở người di cư. Cần có sự quan tâm lớn hơn để đảm bảo người dân Việt Nam trên khắp đất nước có cơ hội đạt được một chất lượng sống tốt hơn.

Bối cảnh Kinh tế Vĩ mô của Việt Nam và Chương trình Tái cơ cấu

Với tỉ lệ lạm phát cao, việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trên thực tế cần được coi là một vấn đề ưu tiên. Cho đến nay, việc thắt chặt tài chính và tiền tệ đã đem lại những kết quả bước đầu, nhưng đồng thời cũng khiến cho GDP chỉ đạt được mức tăng trưởng khiêm tốn là 5,7% trong 9 tháng đầu năm 2011. Tình trạng bất ổn định kinh tế vĩ mô hiện nay đã tồn tại dai dẳng kể từ tháng 11/2010 và điều này kéo dài tình trạng không chắc chắn của nền kinh tế Việt Nam. Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam ở mức 18,62% trong 11 tháng đầu năm 2011, cao hơn bất cứ quốc gia nào khác trong khu vực Đông Nam Á trong vòng 3 năm qua, và thuộc nhóm tỉ lệ lạm phát cao nhất trên thế giới.

LHQ hoan nghênh việc Chính phủ quyết định thiết lập một mô hình tăng trưởng kinh tế mới và điều chỉnh các mục tiêu tăng trưởng cho phù hợp hơn với thực tiễn, trong điều kiện đất nước đang phải đối mặt với các thách thức hiện nay. Giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của tình trạng lạm phát cao và bất ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi phải thực hiện mạnh mẽ Nghị quyết 11. Đặc biệt, cần có những nỗ lực lớn hơn nhằm đạt được những cải cách kinh tế có tính lâu dài. Để đạt được điều đó, cần phải duy trì trọng tâm vào các mục tiêu kinh tế - xã hội trên phạm vi rộng hơn mà Việt Nam đề ra, bao gồm sự bền vững môi trường, tạo việc làm, giảm nghèo, và cải thiện các kết quả phát triển con người.

Trong bối cảnh này, LHQ đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng một chiến lược toàn diện về tăng trưởng xanh. Cam kết hướng tới tăng trưởng ít cacbon là một trong những thành tố chính của chiến lược này, nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng.

Một chiến lược tăng trưởng xanh được xây dựng hợp lý sẽ giúp Việt Nam tiếp cận với công nghệ sạch, phát triển những việc làm mới và có năng suất cao hơn, và giải quyết các quan ngại về môi trường. Một điều đặc biệt quan trọng là Việt Nam cần đầu tư vào tăng trưởng xanh và giải quyết các thách thức liên quan đến biến đổi khí hậu, bởi vì nếu không thì cái giá phải trả có thể ảnh hưởng rất tiêu cực đến những tiến bộ và thành tựu đạt được cho đến nay.

Nhìn về phía trước, trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam thực hiện cải cách kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu nền kinh tế, LHQ nhận thấy có 5 vấn đề ưu tiên chính.

Trước hết, trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu có thể sẽ tiếp diễn, LHQ khuyến nghị mạnh mẽ rằng việc cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế cần tính đến xây dựng khả năng chống đỡ trước những cú sốc không thể dự đoán trước được cả từ bên trong và bên ngoài đối với nền kinh tế và đối với cuộc sống của người dân.

Thứ hai, việc hệ số sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam ở mức cao và ngày một gia tăng, lên đến 6,3 trong năm 2010, tiếp tục là một mối lo ngại. Đáng chú ý là hiệu quả đầu tư thấp có thể nhận thấy nhiều nhất ở các khoản đầu tư lớn do khối Nhà nước đứng đầu thực hiện, với hệ số ICOR là 7,8 so với 3,2 ở khối tư nhân và 5,2 ở khối đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Hệ quả là Việt Nam hiện đang gánh chịu mức thiếu hụt ngân sách 8% từ năm 2009, và nợ công gia tăng lên mức 57,3% GDP trong năm 2010, tuy nhiên do nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chưa được tính vào con số này nên mức nợ công thực sự còn có thể lớn hơn. Mặc dù việc thắt chặt chi tiêu ngân sách là cần thiết nhưng LHQ khuyến nghị rằng điều này không nên đồng nghĩa với việc cắt giảm đầu tư cho công tác giảm nghèo và bảo trợ xã hội.

LHQ khuyến nghị Chính phủ ưu tiên cắt giảm chi tiêu trong các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động không hiệu quả và gây nên những khoản nợ lớn. LHQ cũng khuyến nghị Chính phủ ưu tiên đảm bảo có các tiêu chí rõ ràng cho cắt giảm chi tiêu công cùng với thông tin về những lĩnh vực sẽ thực hiện cắt giảm chi tiêu được chia sẻ với công chúng và cộng đồng doanh nghiệp. LHQ đồng thời khuyến nghị rằng cần có sự quan tâm thích đáng đối với việc giải quyết những tác động có thể xảy ra của việc cắt giảm đầu tư công dành cho người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương.

Việc sử dụng các nguồn lực công hiệu quả hơn không chỉ góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế mà còn giúp giải phóng nguồn lực cho các dịch vụ xã hội và công tác đảm bảo bền vững môi trường. Hiện tại chỉ có 15,2% tổng đầu tư công là được chi tiêu cho các dịch vụ xã hội và 7,7% là cho công tác quản lý Nhà nước, so với 77,1% đầu tư cho các mục đích liên quan tới tăng trưởng kinh tế. Cần thực hiện việc giám sát độc lập từ bên ngoài đối với đầu tư công nhằm đảm bảo đạt được những lợi ích kinh tế đầy đủ, đồng thời đảm bảo việc bảo vệ môi trường, chống lại biến đổi khí hậu và phúc lợi xã hội không bị coi nhẹ.

Thứ ba, việc tái cơ cấu nền kinh tế cần bao gồm các biện pháp nhằm tránh phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước như hiện nay, đồng thời tăng cường đầu tư cho khối doanh nghiệp tư nhân trong nước và cho các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ. Các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ đóng vai trò chủ chốt trong tạo thu nhập và giảm nghèo. LHQ khuyến nghị cần cân nhắc một cách thận trọng các tác động tiêu cực của các biện pháp thắt chặt đối với phát triển nông thôn và đối với các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ. Một môi trường thuận lợi cho việc tiếp cận tín dụng và thị trường là yếu tố đặc biệt quan trọng, trong bối cảnh một số nghiên cứu cho biết các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận với tín dụng để đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của mình.

Thứ tư, cần đảm bảo có một cách tiếp cận cân bằng hơn trong việc phân cấp quản lý. Mặc dù việc phân cấp quản lý là một việc làm quan trọng giúp đưa quyền ra quyết định tới gần người dân hơn, nhưng đã đến lúc cần xem xét lại quy trình phân cấp quản lý vì có khả năng việc thực hiện đã và đang bị gián đoạn và chồng chéo. Gần đây, các tỉnh xây dựng các kế hoạch đầu tư tổng thể của mình với nhiều sáng kiến chồng chéo và cạnh tranh với nhau, đặc biệt là trong đầu tư kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng. Ví dụ, hiện đã có kế hoạch xây dựng 194 khu công nghiệp, 18 khu kinh tế duyên hải cùng một số cảng hàng hải và sân bay hàng không, mà không có sự phân tích giá trị chiến lược của chúng đối với sự phát triển chung của cả nước. LHQ khuyến nghị rằng cần có những cơ chế ưu đãi thích hợp nhằm hỗ trợ việc ra quyết định và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, giúp đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội cân bằng hơn ở các cấp địa phương.

Thứ năm và cũng là cuối cùng, Chính phủ cần ưu tiên đảm bảo rằng đầu tư vào tái cơ cấu nền kinh tế không làm giảm tăng trưởng GDP xuống dưới mức mà công tác tạo việc làm và giảm nghèo còn có thể được hỗ trợ. Do những thành tựu ấn tượng mà Việt Nam đã đạt được trong công tác giảm nghèo chủ yếu có được nhờ tăng trưởng kinh tế, nên việc giảm tỉ lệ tăng trưởng có khả năng sẽ tác động tiêu cực đến công tác giảm nghèo và tạo việc làm. Có thể cần đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm bù đắp cho sự sụt giảm mức tăng trưởng. LHQ khuyến nghị Chính phủ ưu tiên đánh giá những chí phí của việc tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có việc tái đầu tư của các ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước, nhằm đảm bảo những chi tiêu cần thực hiện không gây ra tác động tiêu cực đối với các mục tiêu tăng trưởng nói chung và đối với tiêu dùng xã hội.

Tác động xã hội của bất ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát cao

Bất ổn định kinh tế vĩ mô đang ảnh hưởng đến kế sinh nhai và đến đời sống của người dân. Người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương phải chịu hậu quả nặng nề nhất, trong đó có nhóm đối tượng cận nghèo và những người sống nhờ trợ cấp của Nhà nước. Các nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương mới nảy sinh đặc biệt có nguy cơ rơi lại vào tình trạng nghèo đói do hậu quả của các cú sốc kinh tế.

Các phát hiện gần đây của nghiên cứu đánh giá tác động nhanh (RIM) do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) thực hiện đã làm sáng tỏ tác động xã hội của giai đoạn lạm phát cao gần đây nhất. Trước hết, theo nghiên cứu này thì lạm phát cao trong năm 2011 vẫn chưa dẫn đến sự sụt giảm đáng kể số lượng việc làm. Hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát trong khuôn khổ nghiên cứu RIM cho biết họ vẫn có thể duy trì hoạt động và chưa phải sa thải công nhân viên. Tuy nhiên, nếu bất ổn định kinh tế tiếp tục thì sẽ gây ảnh hưởng tới các doanh nghiệp do họ phải đối mặt với sự sụt giảm nhu cầu và lợi nhuận thu được cũng thấp hơn. Các doanh nghiệp sẽ bắt đầu trì hoãn đầu tư và trì hoãn mở rộng hoạt động kinh doanh, trong đó có việc đầu tư cho công nghệ và thiết bị mới. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong thời gian trung hạn, với các tác động kéo theo trong lĩnh vực việc làm.

Mặc dù nghiên cứu đánh giá RIM cho thấy người sản xuất gạo đã được hưởng lợi nhiều hơn từ việc tăng giá gạo và tăng sản lượng thu hoạch, nhưng phần lớn số tiền thu được qua việc tăng giá lại phải bù cho chi phí đầu vào, nhiên liệu và thực phẩm gia tăng. Bên cạnh đó, do giá bán lẻ cao hơn nhiều so với giá thu mua từ người sản xuất, nên trên thực tế lái buôn gạo được hưởng lợi nhiều hơn người sản xuất ban đầu. Những gia đình nghèo và dễ bị tổn thương ở nông thôn thậm chí không có gạo dư để bán, do đó họ không thể hưởng lợi từ việc tăng giá gạo.

Bên cạnh đó, việc giá cả tăng cao đang gây những tác động tiêu cực đối với những người làm công ăn lương, người lao động trong khu vực kinh tế không chính thức, người nghèo đô thị, và những người sống bằng trợ cấp của Nhà nước. Năng lực mua giảm sút cùng với chi phí cho thực phẩm, nhiên liệu và nhà ở tăng cao đã gây suy giảm hoạt động tiết kiệm tiền và chuyển tiền, đồng thời làm giảm khả năng tiêu dùng. Hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với một hoàn cảnh là gần như không thể hạn chế được nguồn cung lao động: ngày càng có nhiều người trẻ tuổi từ các vùng nông thôn đổ đến gõ cửa các công ty để xin việc làm. Điều này đã góp phần gây nên tình trạng đồng lương thực tế của người lao động bị duy trì ở mức thấp. Việt Nam đã tiếp tục chứng kiến những cuộc đình công bất ngờ, không chính thức trong suốt năm 2011. Chi phí cuộc sống gia tăng là một tác nhân gây nên những cuộc đình công nói trên. Một số chủ lao động cũng đã không giữ lời hứa trong việc thanh toán trợ cấp cho người lao động, trong đó có bảo hiểm thất nghiệp, và điều đó góp phần gây nên sự căng thẳng trong quan hệ giữa chủ lao động và người lao động.

Trong các giai đoạn lạm phát cao, cần tăng mức trợ cấp xã hội và hỗ trợ cho người nghèo và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, trong đó có những nhóm có nguy cơ rơi trở lại vào tình trạng nghèo đói do hậu quả của các cú sốc kinh tế. Nghị quyết 11 đề ra các biện pháp nhằm đảm bảo người dân được tiếp cận với các lợi ích do công tác bảo trợ xã hội đem lại. Tuy nhiên, cho đến nay ngoài lượng ngân sách đã được Nhà nước chi cho các sáng kiến bảo trợ xã hội thì số kinh phí bổ sung được phân bổ còn rất hạn chế. Chuẩn nghèo và các mức trợ cấp xã hội chính thức không theo kịp tỉ lệ lạm phát và mức tăng lương tối thiểu. Ví dụ, một người già sống ở khu vực nông thôn chỉ nhận được khoản trợ cấp 180.000 đồng/tháng (6.000 đồng/ngày), thấp hơn rất nhiều so với chuẩn nghèo chính thức áp dụng cho khu vực nông thôn năm 2011 là 400.000 đồng/tháng. Đánh giá RIM cho thấy mặc dù tiền lương hưu và các khoản trợ cấp khác đã được điều chỉnh nhưng sức mua của người nhận trợ cấp Nhà nước đã giảm 15%.

Lạm phát cao, đồng tiền mất giá trong bối cảnh nền kinh tế bị đô-la hóa ở mức cao và thâm hụt thương mại tồn tại dai dẳng – tất cả những yếu tố này kết hợp lại đã khiến cho thu nhập thực tế và sức mua sắm của người dân bị đi xuống. Nguy cơ ở đây là Việt Nam có thể sẽ dậm chân tại chỗ ở địa vị quốc gia có thu nhập trung bình thấp hoặc thậm chí có thể tụt xuống địa vị thấp hơn, và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương có thể sẽ bị rơi vào cảnh nghèo. Những quốc gia có hệ thống bảo trợ xã hội vững mạnh và thống nhất có khả năng chống chọi tốt hơn trong các giai đoạn khủng hoảng và bất ổn định kinh tế. Tuy nhiên, đầu tư cho lĩnh vực xã hội ở Việt Nam chưa theo kịp đà tăng trưởng kinh tế. Hệ thống bảo trợ xã hội và các chương trình giảm nghèo của Việt Nam vẫn còn rời rạc thiếu liên kết, nhiều sáng kiến chồng chéo và đối nghịch nhau. Một số nhóm người, ví dụ như người di cư, vẫn không thể tiếp cận với các dịch vụ và hỗ trợ xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam có khả năng sẽ tiếp tục phải trải qua sự bất ổn định kinh tế vĩ mô và các áp lực lạm phát trong giai đoạn ngắn và trung hạn, việc mở rộng phạm vi bảo trợ xã hội tới mọi người dân Việt Nam cần được ưu tiên nhiều hơn trong gói các biện pháp cải cách hiện nay.

Các xu hướng và thách thức trong công tác giảm nghèo

Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã giúp Việt Nam đưa hàng triệu người dân thoát nghèo. Tỉ lệ nghèo giảm từ 58% trong những năm 1990 xuống còn 14% tính đến năm 2008, qua đó nâng cao mức sống của mọi người dân Việt Nam. Tiến bộ ấn tượng này của cả nước đã đạt được qua hai xu hướng khá trái ngược nhau. Tỉ lệ nghèo ở người dân tộc Kinh tiếp tục giảm một cách ổn định. Tuy nhiên ở các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ giảm nghèo đã chững lại, khiến cho tỉ lệ giảm nghèo của cả nước cũng bị chậm lại. Ở các nhóm dân tộc thiểu số, cứ 2 người thì có 1 người là người nghèo, nhưng đối với nhóm người Kinh thì cứ 10 người mới có 1 người nghèo. 65% của nhóm người nghèo nhất là người dân tộc thiểu số. Do các hình thái nghèo kinh niên và cố hữu tỏ ra khó giải quyết hơn trong tương lai, nên những chiến lược mới và có tính sáng tạo trong việc đo lường và giải quyết nghèo đói sẽ cần được xay dựng, đồng thời các sáng kiến có triển vọng cần được nhân rộng.

Chuẩn nghèo chính thức của Việt Nam hiện ở mức thấp so với các tiêu chuẩn quốc tế, và thấp hơn hầu hết các quốc gia ở khu vực Đông Á. Một số nhóm dân cư, ví dụ như người di cư trong vòng dưới 6 tháng, không được tính vào các cuộc khảo sát cấp quốc gia, và điều này cũng gây ảnh hưởng đến việc tính toán tỉ lệ đói nghèo. Theo chuẩn nghèo quốc tế do Ngân hàng Thế giới đề ra là 1,25 đô-la Mỹ/ ngày thì tỉ lệ nghèo của Việt Nam năm 2008 là 21%. Số liệu của Tổng Cục Thống kê qua Điều tra Mức sống Hộ gia đình VHLSS năm 2010 cho thấy tỉ lệ hộ nghèo là 10,7% nếu áp dụng chuẩn nghèo tại thời điểm đó, và tăng lên 14,2% khi áp dụng chuẩn nghèo chính thức được đưa ra trong KHPT KTXH giai đoạn 2011-2015. Ở khía cạnh này, LHQ hoan nghênh sự chủ động của Tổng Cục Thống kê trong việc cập nhật chuẩn nghèo sử dụng cho Điều tra VHLSS, đồng thời khuyến nghị rằng chuẩn nghèo chính thức cần được cập nhật hàng năm để theo kịp tỉ lệ lạm phát.

Thành công của Việt Nam trong công tác giảm nghèo có khả năng sẽ tiếp tục gặp phải thách thức dưới tác động của sự chuyển dịch cơ cấu dân số với một lượng lớn lao động nông thôn trẻ không có trình độ tay nghề bước vào thị trường lao động để tìm kiếm việc làm, đồng thời một bộ phận dân số đang già đi nhanh chóng, đòi hỏi phải có các dịch vụ và hỗ trợ xã hội. Sự chuyển dịch của người dân tăng lên do mọi người phải đi tìm kiếm việc làm, điều này góp phần gây nên những hình thái nghèo mới, trong đó có nghèo đô thị và nghèo ở người di cư. Phụ nữ trẻ ở độ tuổi 15-24, đối tượng chiếm phần lớn lực lượng di cư trong nước, là những người đặc biệt dễ bị tổn thương. Tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em và lao động trẻ em trở nên nghiêm trọng hơn trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, khi các gia đình phải cho con em mình tới lao động trong các nhà máy và tại các thành phố, thường là trong những loại hình lao động rất rủi ro và có nguy cơ gây tổn thương cao.

Chất lượng việc làm vẫn là một vấn đề đối với người lao động ở cả hai khu vực kinh tế chính thức và không chính thức. Mặc dù tỉ lệ thất nghiệp được duy trì ở mức thấp nhưng thành tựu của nền kinh tế trong việc tạo ra việc làm tốt và có năng suất cao lại kém ấn tượng hơn nhiều. Trong khu vực kinh tế chính thức, tiền lương bị sụt giảm trong mối tương quan với giá cả tăng cao. Người lao động tiếp tục phải đối mặt với những rủi ro về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp cũng như giờ làm việc kéo dài. Bên cạnh đó, việc người lao động chính thức được hưởng trợ cấp an sinh xã hội vẫn là một ngoại lệ ở Việt Nam. Một nửa lực lượng lao động ở Việt Nam vẫn tham gia lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, hầu hết là trong những việc làm không chính thức. Trên 2/3 người lao động phi nông nghiệp hiện lao động trong khu vực kinh tế không chính thức, trong đó chủ yếu là những việc làm không đòi hỏi tay nghề cao, năng suất thấp hơn và tiền lương thấp. Phụ nữ chiếm đa số trong các việc làm không có tay nghề, không chính thức và dễ gây tổn thương, đặc biệt là lao động không công trong gia đình.

Nhìn về phía trước, LHQ kêu gọi Việt Nam khẩn trương thực hiện những nỗ lực to lớn hơn nhằm đạt được chỉ tiêu đề ra trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ số 1 là tạo việc làm đầy đủ, việc làm tốt và có năng suất cho người dân. LHQ khuyến nghị Chính phủ quan tâm đặc biệt đến việc tạo đầy đủ việc làm tốt cho người lao động trẻ ở khu vực nông thôn, đồng thời ưu tiên mở rộng phạm vi trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp an sinh xã hội tới người lao động trong những ngành nghề dễ gây tổn thương, trong khu vực kinh tế không chính thức. Trong bối cảnh này, LHQ cũng khuyến nghị rằng cần thu thập các số liệu và bằng chứng thực tế có chất lượng tốt hơn qua các cuộc khảo sát quốc gia nhằm hỗ trợ việc xác định các chiến lược và chính sách việc làm phù hợp.

Nghèo xét trên khía cạnh thu nhập không phải là nhân tố duy nhất dẫn đến tình trạng bị tổn thương và thiếu hụt. Theo Điều tra về Nghèo đô thị năm 2010 tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, mặc dù tỉ lệ nghèo xét trên khía cạnh thu nhập ở mức thấp nhưng những thiếu hụt phi tiền tệ lại khá nghiêm trọng, đáng chú ý nhất là thiếu hụt khả năng tiếp cận với các sáng kiến bảo trợ xã hội, nhà ở, và các dịch vụ xã hội. So với những người định cư cố định thì người di cư có nhiều khả năng bị mất khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội và bảo trợ xã hội, chất lượng nhà ở và hòa nhập xã hội hơn.

Trên phạm vi cả nước, tỉ lệ nghèo đa chuẩn cao hơn so với tỉ lệ nghèo về thu nhập, hai con số này lần lượt là 23% và 14%. Theo Báo cáo Phát triển Con người năm 2011 của Việt Nam, số lượng người nghèo đa chuẩn ở khu vực nông thôn cao gấp 5 lần so với ở khu vực thành thị. Bốn chín phần trăm của nhóm 1/5 dân số nghèo nhất phải chịu những thiếu hụt phi tiền tệ, trong khi tỉ lệ này ở nhóm 1/5 dân số giàu nhất chỉ là 5,7%. Sáu mươi hai phần trăm người dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo phi tiền tệ so với 17,4% ở người Kinh. Những khác biệt tương tự cũng có thể được nhận thấy trong vấn đề nghèo đa chuẩn ở trẻ em, theo đó nếu áp dụng các chuẩn thiếu hụt phi tiền tệ thì có đến 2/3 trẻ em dân tộc thiểu số là thuộc diện nghèo. Như vậy, chỉ số nghèo đa chuẩn là một biện pháp quan trọng giúp đo lường sự thiếu hụt và sự gạt bỏ khỏi xã hội, và phù hợp hơn so với việc chỉ áp dụng chỉ số nghèo thu nhập cho một quốc gia có thu nhập trung bình như Việt Nam. LHQ khuyến nghị rằng các chỉ số nghèo đa chuẩn cần được thể chế hóa trong các cuộc điều tra, khảo sát cấp quốc gia và cần được sử dụng bên cạnh chuẩn nghèo thu nhập trong quá trình xác định đối tượng cho các can thiệp giảm nghèo.

Các nhóm dân số có thu nhập ở gần mức chuẩn nghèo, trong đó có người làm công ăn lương có trình độ tay nghề thấp, lao động không chính thức, lao động di cư và những người sống bằng trợ cấp xã hội, là những đối tượng đặc biệt có nguy cơ rơi vào cảnh nghèo. Các giai đoạn bất ổn định kinh tế và thiên tai càng làm trầm trọng thêm nguy cơ này. Hiện tại Việt nam đã thất thoát trung bình khoảng 1,5% GDP do tác động của thiên tai. Biến đổi khí hậu có nguy cơ sẽ làm trầm trọng thêm các tác động nói trên với việc các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra nhiều hơn, dẫn tới mức thiệt hại lớn hơn. Người nghèo là nhóm đối tượng dễ chịu tác động nhiều hơn của biến đổi khí hậu. Bên cạnh việc khẩn trương thực hiện những nỗ lực đồng thuận, thống nhất trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, LHQ cũng khuyến nghị đưa những nhóm đối tượng nói trên vào các chương trình giảm nghèo và việc thực hiện các sáng kiến bảo trợ xã hội được mở rộng cho họ.

Đầu tư vào con người

Sự giảm sút tỉ lệ giảm nghèo gần đây có nguyên nhân không chỉ là ở những khó khăn trong việc giải quyết các hình thái nghèo cố hữu, kinh niên, mà còn là do tăng trưởng kinh tế từ trước đến nay chưa đến được với tất cả mọi tầng lớp, đối tượng trong xã hội, việc sử dụng các nguồn lực công chưa hiệu quả, và lĩnh vực phát triển xã hội chưa được ưu tiên đúng mức. Nếu Việt Nam muốn đạt được các mục tiêu phát triển của mình thì lúc này Việt Nam cần tăng cường đầu tư vào con người. Đây là yếu tố sống còn đối với việc giải quyết “những phần việc chưa hoàn thành” trong việc tiến tới đạt được tất cả các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (PTTNK) trước thời hạn năm 2015, trong đó có các chỉ tiêu đề ra trong Mục tiêu PTTNK số 6 về HIV và Mục tiêu PTTNK số 7 về nước sạch và vệ sinh. Tiến bộ đạt được trong việc giảm tỉ lệ tử vong ở mẹ hiện đã chững lại, và mặc dù tỉ lệ tử vong ở trẻ đã giảm nhưng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn là một mối quan ngại ở mức 33% vào năm 2008.

Những thể hiện gần đây của Việt Nam trong việc cải thiện Chỉ số Phát triển Con người (HDI) càng làm nổi bật yêu cầu đảm bảo sự cân bằng tốt hơn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển cho tất cả mọi người, phát triển xanh, bình đẳng và vì người nghèo. Tăng trưởng kinh tế vẫn là yếu tố chủ đạo dẫn dắt tiến bộ của Việt Nam trong HDI. Trong các năm 1999-2008, chỉ số thu nhập đã đóng góp 55,7% trong tăng trưởng HDI của Việt Nam, so với 31,8% ở chỉ số tuổi thọ và 12,6% ở chỉ số giáo dục. Có vẻ như những tiến bộ kém nhanh chóng của Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục đang góp phần gây nên thực trạng tăng trưởng HDI nhìn chung còn chậm ở Việt Nam.

Phát triển con người cũng có mối tương quan chặt chẽ với quản lý Nhà nước tốt. Thành tích của các địa phương trong Chỉ số Thực hiện Quản trị và Hành chính công (PAPI) có mối quan hệ tương quan chặt chẽ với HDI: những tỉnh có HDI cao cũng là những tỉnh có chỉ số PAPI cao. Trong số 6 lĩnh vực của chỉ số PAPI, sự hài lòng của người dân với các dịch vụ công có mối quan hệ tương quan chặt chẽ nhất với các mức độ phát triển con người cao hơn.

Trong bối cảnh này, LHQ hoan nghênh việc Chính phủ ưu tiên phát triển nguồn nhân lực – một trong ba sự đột phá chủ yếu trong KHPT KTXH giai đoạn tới – đồng thời kêu gọi Chính phủ ưu tiên nhiều hơn tới việc đầu tư vào các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế và giáo dục.

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ ấn tượng trong lĩnh vực giáo dục, với tỉ lệ nhập học đã đạt gần mức phổ cập ở cả bậc giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Tuy nhiên, trình độ học vấn và kỹ năng, tay nghề của người Việt Nam vẫn kém hơn so với các quốc gia khác trong khu vực. Số năm đi học trung bình dự kiến đối với mỗi người hiện nay ở khu vực Đông Á & Thái Bình Dương là 11,7 năm, và số năm đi học trung bình trên thực tế là 7,2 năm, trong khi các con số này của Việt Nam lần lượt là 10,4 năm và 5,5 năm. Theo số lượng Khảo sát Lực lượng Lao động Việt Nam năm 2010, 85,4% người lao động có việc làm chưa hề được đào tạo hay có bằng cấp chính thức. Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực đào tạo nghề và giáo dục đại học, cao đẳng, trung cấp có chất lượng nhằm xay dựng một lực lượng lao động có trình độ, tay nghề và có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Bên cạnh đó, cần đảm bảo tiếp cận với các dịch vụ xã hội và giáo dục có chất lượng và trong khả năng chi trả của người dân. Hiện tại, chi phí của các gia đình cho y tế và giáo dục chiếm một phần lớn trong tổng số chi tiêu của họ, và ở mức cao hơn nhiều so với con số 30% - mức cần thiết tối thiểu được khuyến nghị để giúp nâng cao sự bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ.

Hiện tại, khoảng 60% tổng chi tiêu cho y tế là từ các nguồn tư nhân. Trong năm 2008, 56% tổng chi tiêu cho y tế  là từ tiền túi của người dân. Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ các gia đình phải đối mặt với hậu quả to lớn của việc chi tiêu cho y tế thuộc hàng cao nhất trong khu vực. Một nghiên cứu gần đây cho thấy giữa các năm 2002 và 2008, tỉ lệ này tăng từ 4,7% lên 5,5%. Cũng trong cùng thời gian này, hàng năm có trên 3% các hộ gia đình rơi vào cảnh nghèo do phải chi trả cho các dịch vụ y tế. Trong lĩnh vực giáo dục, chi tiêu của các hộ gia đình vẫn tiếp tục leo thang, đặc biệt là ở các cấp giáo dục cao hơn. Chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình thay đổi theo bậc học, từ 17,5% đối với bậc tiểu học đến 52,2% đối với bậc đại học, cao đẳng. Các chi phí y tế và giáo dục tăng cao đã và đang đặt một gánh nặng lớn lên vai những gia đình nghèo và dễ bị tổn thương không có điều kiện chi trả cho những khoản phí đó.

Tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ xã hội có chất lượng có thể đóng vai trò như một đòn bẩy giúp các hộ gia đình thoát nghèo và phá vỡ các hình thái bất bình đẳng và yếu thế tồn tại từ thế hệ này qua thế hệ khác. LHQ kêu gọi Chính phủ khẩn trương hành động ngay lúc này nhằm tăng cường quản lý và giám sát các dịch vụ xã hội của Nhà nước cũng như tư nhân. Đảm bảo gánh nặng chi phí được chia đều hơn giữa Nhà nước và các hộ gia đình cũng cần là một vấn đề ưu tiên. Trong bối cảnh này, LHQ khuyến nghị Chính phủ rà soát lại chính sách xã hội hóa và tác động của chính sách này đối với chi tiêu của các hộ gia đình cho y tế và giáo dục.

Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều hình thái bất bình đẳng và tách rời xã hội. Bất bình đẳng về thu nhập đang gia tăng: hệ số Gini của Việt Nam đã tăng từ 0,420 năm 2002 lên 0,433 năm 2010, trong khi xét về giá trị tuyệt đối thì khoảng cách giàu – nghèo đã tăng từ 8,1 trong năm 2002 lên 9,2 năm 2010. Tiến bộ tổng thể đạt được ở cấp quốc gia đã che giấu những sự chênh lệch ngày càng tăng giữa các khu vực và các dân tộc. Bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng trong gia đình nơi một phần ba phụ nữ đã từng gặp phải bạo lực về thể chất hoặc tình dục, và ở thị trường lao độngcũng như trong quá trình ra quyết định ở tất cả các cấp. Những nhóm người bị gạt ra ngoài lề hoặc bị gạt ra ngoài xã hội như người khuyết tật và người sống chung với HIV không được tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ và hỗ trợ xã hội, cũng như các cơ hội trong cuộc sống.

LHQ kêu gọi Chính phủ khẩn trương hành động một cách quyết đoán nhằm kìm chế sự gia tăng bất bình đẳng và đẩy mạnh nỗ lực giải quyết các hình thái nghèo mới cũng như nghèo kinh niên; bao gồm bất bình đẳng trong tiếp cận với các dịch vụ và cơ hội đối với những đối tượng nam giới, phụ nữ, trẻ em trai và trẻ em gái dễ bị tổn thương. LHQ cũng khuyến nghị Chính phủ dành cùng mức độ ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng, nghèo đói và phát triển con người như đang được dành cho công tác tái cơ cấu nền kinh tế và kìm chế sự bất ổn định kinh tế vĩ mô.

Chống tham nhũng

Quản lý Nhà nước tốt là nhân tố thiết yếu giúp đạt được các mục tiêu phát triển của Việt Nam. LHQ ghi nhận cam kết của Việt Nam trong việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Phòng chống Tham nhũng (UNCAC). Việt Nam đã có những nỗ lực đáng khen ngợi trong việc đẩy mạnh đảm bảo tuân thủ và thực hiện UNCAC.

Năm 2011 đánh dấu 5 năm thực hiện Luật Phòng chống Tham nhũng. LHQ ghi nhận những tiến bộ to lớn Việt Nam đã đạt được trong việc củng cố các khuôn khổ pháp lý, song đồng thời cũng lưu ý về tốc độ thực hiện đến nay còn chậm. Trong khuôn khổ thực hiện giai đoạn 2 của Nghị quyết số 21/NQ-CP về Chiến lược Phòng chống Tham nhũng đến năm 2020, LHQ kêu gọi Chính phủ Việt Nam tập trung tăng cường vai trò và nhiệm vụ của các cơ quan phòng chống tham nhũng sao cho các cơ quan này có thể đóng vai trò là cơ quan kiểm tra, giám sát phòng chống tham nhũng một cách mạnh mẽ hơn. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, trấn áp tệ nạn tham nhũng và rò rỉ tài nguyên, và sự tham gia lớn hơn của các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình phát triển, có thể giúp chúng ta có những bước tiến dài trong việc nâng cao trách nhiệm giải trình và tính minh bạch.

Hiệu quả Viện trợ

Như đã được trình bày tại Diễn đàn Cấp cao về Hiệu quả Viện trợ tổ chức tại Busan gần đây, môi trường Hỗ Trợ Phát Triển Chính Thức (ODA) hiện đang trở nên ngày một phức tạp trên khắp thế giới. Các đối tác mới đang bắt đầu tham gia vào sân chơi này, viện trợ tư nhân hiện đang đóng vai trò lớn hơn và ngày càng có nhiều nhà tài trợ muốn đánh dấu sở hữu cho các khoản hỗ trợ của mình. Hệ quả tất yếu là sự rời rạc, đứt đoạn trong công tác viện trợ và sự lãnh đạo của Chính phủ bị hạn chế hơn ở vào thời điểm cần phải có sự thống nhất nỗ lực hành động và sự tự chủ của quốc gia nhận viện trợ. Điều này cũng xảy ra ở Việt Nam, nơi hỗ trợ ODA phần lớn được cung cấp và sử dụng một cách rời rạc dẫn đến hiệu quả thấp và chi phí giao dịch cao.

Trong bối cảnh này, LHQ và các đối tác phát triển khác kêu gọi Chính phủ khẩn trương thực hiện một cách tiếp cận phù hợp hơn trong các quy trình quản lý và điều phối ODA. Việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 131 là một cơ hội quan trọng giúp chúng ta đạt được tiến bộ trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, LHQ vẫn quan ngại rằng các nội dung sửa đổi chưa vương đủ xa để đảm bảo việc đơn giản hóa các thủ tục, thông lệ và giảm thiểu tính thiếu hiệu quả. Do hiểu biết về Nghị định 131 giữa các đối tác thực hiện thuộc Chính phủ ở tất cả các cấp còn có sự chênh lệch, nên việc thực hiện và phổ biến một cách hiệu quả Nghị định sửa đổi, bổ sung sẽ là một việc làm rất quan trọng.

Tới đây, trên cơ sở tham khảo ý kiến Chính phủ, LHQ sẽ hoàn thiện Một Kế hoạch của LHQ cho giai đoạn tới là giai đoạn 2012-2016, trong đó có thể hiện những tiến bộ trong việc hướng tới thực hiện các nguyên tắc hiệu quả viện trợ chủ đạo. Kế hoạch này là khuôn khổ chương trình làm việc chung cho 17 tổ chức LHQ tham gia Kế hoạch Chung của LHQ, được xây dựng chung bởi các tổ chức này qua quá trình tham khảo ý kiến Chính phủ, các đối tác phát triển, xã hội dân sự và các cơ quan LHQ. Kế hoạch Chung của LHQ giai đoạn 2012-2016 có sự đồng nhất với khung thời gian thực hiện và các ưu tiên đề ra trong KHPT KTXH, đồng thời xác định những lĩnh vực trọng yếu là trọng tâm công tác của LHQ trong giai đoạn tới. LHQ mong đợi được hợp tác chặt chẽ với tất cả các đối tác của mình trong quá trình thực hiện Kế hoạch Chung của LHQ giai đoạn 2012-2016.

Kết luận

Trong vòng 5 năm tới, khi Việt Nam thực hiện KHPT KTXH dưới sự giám sát của Quốc hội khóa 13, đất nước các bạn có thể phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức mới. Một viễn cảnh kinh tế toàn cầu không dễ dàng cùng với các nhân tố trong nước đã và đang góp phần tạo nên một bối cảnh kinh tế trong nước có nhiều khó khăn, và điều này sẽ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân.

Trong bối cảnh này, LHQ khuyến nghị Chính phủ theo đuổi một sự phát triển kinh tế - xã hội có tính cân bằng. Một mặt, điều này đòi hỏi chúng ta sẽ phải tiếp tục thực hiện cải cách kinh tế nhằm đạt được mong đợi của Việt Nam là trở thành một xã hội và một nền kinh tế công nghiệp hiện đại đến năm 2015. Mặt khác, Việt Nam sẽ cần phải đảm bảo tăng trưởng là dành cho tất cả mọi người, bền vững, bình đẳng và vì người nghèo, đồng thời tăng cường đẩy mạnh đầu tư vào phát triển con người, sao cho tất cả mọi người đều được tiếp cận với các cơ hội để tiến tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Các cơ chế xử lý sẽ cần được xây dựng ở tất cả các cấp nhằm hỗ trợ người dân chống đỡ các cú sốc đồng thời giải quyết nghèo đói và tổn thương dưới bất cứ mọi hình thái. Có vai trò hết sức quan trọng còn là việc tiếp tục tăng cường vai trò theo dõi, giám sát của các cơ quan Nhà nước chủ chốt, khuyến khích thực hiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình lớn hơn, đồng thời tạo nhiều tiếng nói hơn cho khối xã hội dân sự và cho người dân trong các quá trình hoạch định chính sách, thực hiện và theo dõi việc thực hiện chính sách.

Trong thập niên tới đây, Các Tổ chức LHQ tại Việt Nam sẽ hỗ trợ Chính phủ và nhân dân Việt Nam thực hiện những mong đợi này, qua việc ‘Thống nhất Hành động’ để đảm bảo bình đẳng và lợi ích cho mọi đối tượng trong xã hội.