Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Documents

Order by : Name | Date | Hits [ Descendent ]

Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa

Date added: 08/15/2006
Downloads: 18557
Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa

Đề tài nghiên cứu "Năng lực cạnh tranh và tác động  của Tự do hoá Thương mại Dịch vụ ở Việt Nam: Ngành dịch vụ bảo hiểm", là một trong những nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực Quản lí và Xúc tiến hoạt động Thương mại Dịch vụ ở Việt Nam trong Bối cảnh Hội nhập - VIE/02/009", do Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) tài trợ, Vụ Thương mại và Dịch vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) là cơ quan thực hiện.

Nghiên cứu phân tích năng lực cạnh tranh, đánh giá  các tác động của việc tự do hoá ngành dịch vụ bảo hiểm đối với nền kinh tế nói chung, với các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam và của người tiêu dùng nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Báo cáo cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện khung khổ pháp lí, chính sách điều tiết, thủ tục hành chính; chiến lược phát triển ngành dịch vụ bảo hiểm.

 Tải bản Tiếng Việt tại đây

Khỏa lấp sự cách biệt: Xã hội dân sự mới nổi tại Việt Nam

Date added: 01/25/2007
Downloads: 17340
Khỏa lấp sự cách biệt: Xã hội dân sự mới nổi tại Việt Nam

Các Công trình Nghiên cứu Chỉ số Xã hội Dân sự đã được tiến hành trên toàn thế giới từ năm 2004 đến 2006 đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu hiện tại của xã hội dân sự tại mấy chục nước. Việc đánh giá được thực hiện theo các phương pháp luận tương tự tại mỗi nước nhằm đánh giá xã hội dân sự ở cấp quốc gia trên cơ sở sự tham gia của Nhóm Đánh giá Các bên liên quan quốc gia (SAG) và tổ công tác quốc gia bao gồm một điều phối viên, các nhà nghiên cứu và một chuyên gia xã hội dân sự quốc tế. Công tác đánh giá dựa trên cơ sở một phương pháp luận chung do CIVICUS xây dựng thông qua việc nghiên cứu rộng rãi tại một số nước thí điểm. CIVICUS là Liên minh Thế giới vì sự Tham gia của Công dân.

Dự án Việt Nam được thực hiện từ tháng 4/2005 đến tháng 3/2006 với sự hỗ trợ của UNDP và SNV tại Việt Nam. Đây là nỗ lực đầu tiên được tiến hành rộng rãi nhằm phác họa xã hội dân sự.

Mục tiêu của CSI bao gồm :

  • Tạo ra kiến thức về hiện trạng của xã hội dân sự
  • Tạo ra sự hiểu biết được chia sẻ về xã hội dân sự giữa các bên liên quan chủ chốt
  • Tăng cường sự hiểu biết về xã hội dân sự và đề cao vai trò của xã hội dân sự
  • Thực hiện việc đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của xã hội dân sự và đề ra một số lĩnh vực ưu tiên cho chính sách và hành động.

Tài liệu này mô tả bối cảnh cho dự án tại Việt Nam và tóm tắt phương pháp luận và kết quả của công trình nghiên cứu CSI. Định nghĩa được sử dụng cho xã hội dân sự mang tính rộng rãi, bao trùm và tập trung vào các chức năng hơn là hình thức của các tổ chức tham gia.Các kết qủa chủ yếu được nêu lên và phần kết luận của tài liệu này đưa ra một số kiến nghị làm thế nào để tăng cường sự hỗ trợ cho việc phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam.

Công trình nghiên cứu CSI đánh giá bốn bình diện quan trọng của xã hội dân sự nhằm tạo ra một viễn cảnh rộng rãi và rõ ràng về xã hội dân sự. Bốn bình diện đó là: cấu trúc xã hội dân sự, môi trường kinh tế xã hội đối với xã hội dân sự, các giá trị của xã hội dân sự và tác động của các hoạt động do xã hội dân sự mang lại. Tóm lại, Nhóm Đánh giá Các bên liên quan (SAG) đã đánh giá 74 chỉ số liên quan đến bốn bình diện này.

 Tải bản Tiếng Việt tại đây

Mối liên quan giữa Tuổi cao và Nghèo ở Việt Nam

Date added: 08/29/2007
Downloads: 17547
Mối liên quan giữa Tuổi cao và Nghèo ở Việt Nam

Đây là báo cáo thứ hai trong hai báo cáo viết cho Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc ở Việt Nam nhằm tìm hiểu các vấn đề về thu nhập, nghèo và an sinh xã hội ở Việt Nam, tiếp theo Tài liệu Đối thoại Chính sách nhan đề .Ngoài Xoá Đói Giảm Nghèo: Khuôn khổ cho Hệ thống An sinh Xã hội Quốc gia Hợp nhất ở Việt Nam. xuất bản năm 2005, đề ra những nguyên tắc chung cho các chương trình an sinh xã hội toàn diện ở Việt Nam (Justino 2005). Trong báo cáo này chúng tôi xem xét riêng hoàn cảnh của người cao tuổi ở Việt Nam và trả lời một số câu hỏi then chốt về tình hình người cao tuổi như được thấy trong Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) 2004.

Báo cáo này có cách tiếp cận thực nghiệm và mô tả. Phần 1 tiếp theo sẽ phác thảo về người cao tuổi Việt Nam trong cấu trúc nhân khẩu học chung của Việt Nam. Phần 2 xem xét hoạt động kinh tế của người cao tuổi còn Phần 3 mô tả tình hình sức khoẻ của họ. Phần 4 mô tả thu nhập của người cao tuổi và sau đó tập trung vào an sinh xã hội và tiền gửi giữa những người thân, là những nguồn thu nhập đặc biệt quan trọng. Phần 5 mô tả hồ sơ nghèo và Phần 6 tổng hợp các phát hiện của báo cáo và đưa ra một số kết luận.

 Tải bản Tiếng Việt tại đây

An sinh xã hội ở Việt Nam Lũy tiến đến mức nào?

Date added: 10/02/2007
Downloads: 18536
An sinh xã hội ở Việt Nam Lũy tiến đến mức nào?

Báo cáo này được viết cho Chương trình Phát Triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam tiếp theo Văn kiện Đối thoại Chính sách .Ngoài Xóa Đói Giảm Nghèo: Khuôn khổ Hệ thống An sinh Xã hội Quốc Gia Hợp nhất ở Việt Nam. xuất bản năm ngoái trong đó đưa ra những nguyên tắc chung cho các chương trình an sinh xã hội toàn diện ở Việt Nam. Báo cáo này mang tính thực tiễn hơn và sử dụng số liệu từ Điều tra mức sống hộ gia đình của Việt Nam (VHLSS) để xác định các đối tượng đang được thụ hưởng các chương trình an sinh xã hội và tác động chung của các chương trình đó tới thu nhập và nghèo. Đây là báo cáo thứ nhất trong nhóm hai báo cáo tiếp theo báo cáo trước đây, tập trung xem xét tổng thể dân số và hệ thống an sinh xã hội. Báo cáo thứ hai trong nhóm có tên .Mối liên quan giữa tuổi cao và nghèo ở Việt Nam. sẽ xem xét cụ thể về nhóm người cao tuổi.

Việt Nam đang đạt mức tăng trưởng kinh tế cao với tốc độ tăng GDP từ 4,8% năm 1999 lên 7,7% năm 2004. Cùng với sự tăng trưởng này là thành tích giảm nghèo đầy ấn tượng, từ 59% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và xuống còn khoảng 20% năm 2004.

Chương giới thiệu sẽ điểm lại hệ thống .an sinh xã hội. hiện tại của Việt Nam và tập trung vào những chương trình được quy định có từ năm 2004, năm dữ liệu của điều tra VHLSS mà chúng tôi sẽ giới thiệu trong chương 1 và sử dụng số liệu để phân tích trong các chương tiếp theo. Chương 2 phân tích hai câu hỏi quan trọng. Thứ nhất, .An sinh xã hội có tầm quan trọng như thế nào đối với phúc lợi của các hộ gia đình phân theo khu vực, theo nhóm ngũ phân vị dân số và vùng thành thị . nông thôn?. và thứ hai: .An sinh xã hội có tác động như thế nào tới việc tái phân phối thu nhập?.. Chương 3 xem xét an sinh xã hội trong mối quan hệ với nghèo và việc liệu các chương trình an sinh xã hội của Việt Nam có đóng góp được gì và đóng góp bao nhiêu cho công

cuộc giảm nghèo ở các khu vực, giữa các nhóm ngũ phân vị và vùng thành thị . nông thôn. Chương 4 chuyển từ mô tả hệ thống an sinh xã hội sang đưa ra những phân tích ban đầu và sơ bộ về tác động hành vi của hệ thống an sinh xã hội. Cuối cùng, Chương 5 tổng kết tóm tắt những phát kiến của nghiên cứu và kết luận.

 Tải bản Tiếng Việt tại đây

Top 200: Chiến lược công nghiệp của các doanh nghiệp lớn

Date added: 10/17/2007
Downloads: 19680
Top 200: Chiến lược công nghiệp của các doanh nghiệp lớn

Các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam là lớn so với các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, nhưng so với quốc tế thì giống các doanh nghiệp vừa và nhỏ hơn. Dù sao thì 200 doanh nghiệp lớn nhất chiếm một tỷ lệ lớn về lao động, tài sản, doanh thu và thuế trong mọi hình thức sở hữu (nhà nước, tư nhân, nước ngoài) và mọi ngành ở Việt Nam.  Trong một số trường hợp, những doanh nghiệp lớn nhất chiếm toàn ngành. Trong 200 doanh nghiệp lớn nhất, gần một nửa các doanh nghiệp chế tạo là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Liên Xô sụp đổ khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải đi tìm thị trường mới và sản xuất các hàng hóa dịch vụ mới. Thương mại tự do hóa cho phép các doanh nghiệp mở rộng và tăng trưởng. Hơn một nửa các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam là thành viên của các Tồng Công ty. Trong những năm 90, phần lớn các công ty thành viên không phải chịu sự giám sát quản lý cao độ mà được hưởng quyền tự quyết nhiều hơn để thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp mình so với thời gian trước đó. Tuy nhiên, đôi khi các doanh nghiệp được yêu cầu thực hiện những ‘trách nhiệm xã hội’ như cứu giúp các công ty thành viên làm ăn thua lỗ để bảo vệ việc làm.

Cải cách doanh nghiệp nhà nước đang làm thay đổi điều này. Những hàng rào giữa các doanh nghiệp nhà nước đang được dỡ bỏ và cạnh tranh đang gia tăng giữa các doanh nghiệp. Khi tiến hành cổ phần hóa các công ty thành viên, một số tổng công ty đang mất đi sự kiểm soát chính thức. Cùng với thời gian, ý nghĩa chính xác của từ ‘tổng công ty’ ở Việt Nam đã trở nên kém rõ ràng hơn. Trong quá trình chuyển đổi thành mô hình công ty mẹ - con và tập đoàn kinh tế, nhiều tổng công ty đã tiến vào các lĩnh vực bất động sản, du lịch, chứng khoán và thành lập ra các công ty bảo hiểm và ngân hàng của riêng mình.

Các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam đã chứng tỏ rằng họ có năng lực để đối phó với sự cạnh tranh gia tăng. Họ đang chuyển dịch sang những sản phẩm phức tạp hơn và có chất lượng cao hơn, đa dạng hóa sang các sản phẩm liên quan và tiến vào những lĩnh vực kinh doanh mới. Họ đang thiết lập thương hiệu, mở rộng các kênh phân phối và thâm nhập các thị trường mới.

Các doanh nghiệp lớn cũng đang đưa ra quyết định về tương lai của mình. Một số doanh nghiệp lớn nhất đang đầu tư với mục tiêu khai thác thêm giá trị từ các hoạt động kinh doanh hiện tại. Một số đang hướng đầu tư vào những lĩnh vực ít có lợi ích xã hội nhưng đem lại nhiều lợi nhuận (hiện tại). Nhiều doanh nghiệp đang kết hợp cả hai loại đầu tư trên. Phong trào đầu tư bất động sản và chứng khoán cần được xem xét trong bối cảnh kinh tế rộng hơn trong đó các chiến lược kinh doanh khác tỏ ra rủi ro và khó thực hiện. Nếu ngành kinh doanh cốt lõi không có nhiều lợi nhuận cho lắm, thì sử dụng lợi nhuận từ việc đầu cơ để cấp vốn cho việc mở rộng và nâng cấp ngành nghề cốt lõi có thể là một chiến lược khả quan. Tuy nhiên, dựa vào các khoản đầu tư mang tính đầu cơ như là nguồn lợi nhuận chính cũng chứa đựng nhiều rủi ro.

Nâng cấp sản phẩm không chỉ là động thái của riêng các doanh nghiệp thuộc các ngành ‘công nghệ cao’. Một số doanh nghiệp được phỏng vấn thuộc ngành dệt may và thủy sản đã đầu tư để tạo thêm giá trị trong ngành sản xuất cốt lõi của mình. Với những doanh nghiệp này, họ có thể tìm được lợi nhuận khi phát triển kỹ năng và công nghệ. Tuy nhiên, quá trình này có thể không kém phần rủi ro so với việc đầu tư vào đất đai và chứng khoán giá cao. Công nghệ thì tốn kém và khó nắm bắt, công nhân cần phải được đào tạo và thị trường cần phải được hiểu rõ. Thường thì người ta xoay sang xây khách sạn, chung cư, khu công nghiệp và thành lập công ty con chuyên mua bán chứng khoán.

Chính phủ có thể khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh cốt lõi bằng cách hạn chế đầu cơ trên thị trường bất động sản và thị trường tài chính. Có thể bước khởi đầu là thuế đất và thuế lãi vốn được thiết kế một cách phù hợp. Ngoài ra, chính phủ có thể hỗ trợ để cho các doanh nghiệp có được lao động kỹ năng bằng cách cải thiện chất lượng của các trường đại học và trường dạy nghề. Hai lĩnh vực chính sách này nổi lên như là những vấn đề chủ chốt trong các cuộc phỏng vấn. Xử lý được những vấn đề này sẽ giúp các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam tăng trưởng và phát triển góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế.

 Tải bản Tiếng Việt tại đây

Trang 1 / 20

Tiêu điểm

myhealth-myright_en.pdf.png

NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS NĂM 2017

 

Ngày 1 tháng 12 năm 2017

 

Michel Sidibé
Tổng Giám đốc UNAIDS
Phó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc

Kỷ niệm ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, chúng ta cùng nhau nêu bật tầm quan trọng của quyền về sức khỏe và những thách thức mà những người sống với HIV và người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV còn đang phải đối mặt trong việc thực hiện quyền về sức khỏe.


contest_680.jpg

Vì một hà nội vui sống, thiết kế không gian công cộng

Hà Nội ngày 17/10/2017 - Với mục tiêu cải thiện môi trường sống của người dân, đồng thời đưa văn hóa nghệ thuật đến với cộng đồng, hướng đến một tương lai đô thị tốt đẹp hơn, Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UN-Habitat) đã xây dựng dự án "Huy động nguồn lực cộng đồng và sự tham gia của giới trẻ trong kiến tạo không gian công cộng xanh, an toàn tại Quận Hoàn Kiếm" (sau đây gọi tắt là dự án Không gian công cộng) thuộc chương trình Block by Block của Văn phòng Trung ương UN-Habitat và công ty Mojang, nhà sáng lập ứng dụng Minecraft.


op-ed-juv-justice-390.jpg

Trừng phạt khắc nghiệt đối với trẻ em vi phạm pháp luật không ngăn chặn được tình hình tội phạm người chưa thành niên tiếp tục gia tăng

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đang được tranh luận trong quá trình sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình sự. Một số người tranh luận rằng phương thức tiếp cận "cứng rắn với tội phạm" là cần thiết để trừng phạt trẻ em nhằm phòng ngừa tình trạng phạm tội tiếp diễn.

Tuy nhiên, nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng do trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển, việc gán cho trẻ em và đối xử với trẻ em như những tội phạm ở độ tuổi nhỏ có thể tác động tiêu cực nghiêm trọng đến sự phát triển và khả năng cải tạo, phục hồi thành công của trẻ.


rc_ai_new_year_card_300.jpg

New Year Greetings from the United Nations Resident Coordinator a.i. in Viet Nam

 

On the occasion of New Year 2017, on behalf of the United Nations family in Viet Nam I wish to reiterate our appreciation and express our warmest wishes to our partners and friends throughout the country. We wish our partners and their families in Viet Nam peace, prosperity, good health and happiness in the coming year.

As we enter the second year of the Sustainable Development Goals era, we look forward to continuing our close cooperation for the sake of Viet Nam’s future development; one which is inclusive, equitable and sustainable, with no one left behind.

Youssouf Abdel-Jelil
United Nations Resident Coordinator a.i. in Viet Nam


WAD2016.jpg

Thông điệp của Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-moon nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS, 1 tháng 12

 

Ngày hôm nay, 35 năm sau khi AIDS xuất hiện, toàn thế giới đã có thể tự hào khi nhìn lại các nỗ lực phòng chống dịch. Nhưng chúng ta cũng phải hướng về phía trước với quyết tâm và cam kết chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030.

Thế giới đã đạt được những bước tiến thực sự to lớn. Số người được điều trị HIV đã tăng cao hơn bao giờ hết. Kể từ năm 2010, số trẻ em bị nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ đã giảm một nửa. Cứ mỗi năm số người tử vong do AIDS lại giảm thêm. Và những người nhiễm HIV đang ngày càng có tuổi thọ dài hơn.



RSS Email Subscription

Enter your email address: