Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Nghiên cứu mới cho thấy tỷ lệ bạo lực gia đình ở Việt Nam ở mức cao

In Email

do_vio_in_vn
Nghiên cứu mới cho thấy 1/3 phụ nữ chịu ảnh hưởng của bạo lực gia đình ở Việt Nam

Hà Nội, 25/11/2010 – Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc công bố ngày hôm nay, cứ ba phụ nữ có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một người (34 phần trăm) cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục. Số phụ nữ có hoặc từng có gia đình hiện đangphải chịu một trong hai hình thức bạo hành này chiếm 9 phần trăm.

 

Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng – thể xác, tình dục và tinh thần, thì có hơn một nửa (58 phần trăm) phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng.

“Lần đầu tiên một cuộc nghiên cứu đã được tiến hành trên phạm vi cả nước nhằm tìm hiểu những thông tin chi tiết về mức độ phổ biến và các loại hình bạo lực đối với phụ nữ, các hậu quả về mặt sức khỏe của bạo lực gia đình, các yếu tố rủi ro, phòng ngừa bạo lực, cách xử trí của phụ nữ khi gặp phải bạo lực gia đình cũng như các dịch vụ trợ giúp mà họ đã sử dụng,” Bà Trần Thị Hằng, Phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thống kê phát biểu.

Các số liệu mới được đưa ra đã nêu bật một thực trạng là đa số phụ nữ Việt Nam đều có nguy cơ tiềm tàng bị bạo lực gia đình ở một hay một vài thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ. Tại một số vùng ở Việt Nam, cứ mười phụ nữ thì có bốn người nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn đối với họ. Ví dụ, ở vùng Đông Nam Bộ, 42 phần trăm phụ nữ cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục. Tuy nhiên, mặc dù có sự khác biệt giữa các vùng miền, khu vực, nhưng sự khác biệt lớn nhất có thể nhận thấy là giữa các dân tộc, trong đó tỷ lệ phụ nữ cho biết họ đang hoặc đã từng là nạn nhân của bạo lực gia đình dao động từ 8 phần trăm (người H’Mong) đến 36 phần trăm (người Kinh).

“Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bị giấu diếm nhiều,” Bà Henrica A.F.M. Jansen, Trưởng nhóm nghiên cứu phát biểu. “Bên cạnh sự kỳ thị và sự xấu hổ khiến cho phụ nữ phải giữ im lặng, nhiều phụ nữ còn nghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là một điều ‘bình thường’ và người phụ nữ cần bao dung, nhẫn nhịn chịu đựng để gìn giữ sự êm ấm cho gia đình.” Thực tế là cứ hai phụ nữ tham gia nghiên cứu thì có một người cho biết trước khi tham gia trả lời phỏng vấn phục vụ nghiên cứu này, họ chưa từng nói cho ai biết về việc bị chồng mình bạo hành.

“Báo cáo này nêu bật tính cấp thiết của việc phá bỏ sự im lặng,” Ông Jean Marc Olive, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam nhấn mạnh. “Tất cả chúng ta đều mong đợi những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và những phụ nữ đã tham gia cuộc điều tra này sẽ đứng dậy nói lên tiếng nói của mình và chấm dứt bạo lực gia đình”.

Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của người phụ nữ. Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần. So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần.

Phụ nữ có thai cũng là đối tượng có nguy cơ bị bạo hành. Theo báo cáo nghiên cứu, khoảng 5 phần trăm phụ nữ từng có thai cho biết họ đã bị đánh đập trong thời gian mang thai. Trong hầu hết các trường hợp này, họ đã bị chính người cha của đứa trẻ mình đang mang trong bụng lạm dụng.

Mặc dù bạo lực gia đình xảy ra phổ biến đối với phụ nữ nhưng trẻ em cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ bốn phụ nữ có con dưới 15 tuổi thì có một người cho biết con của họ đã từng bị chồng họ bạo hành thể xác. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng bạo lực gia đình là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với cuộc sống của trẻ em. Ví dụ, báo cáo nghiên cứu cho biết trẻ em sống trong những gia đình mà mẹ bị cha bạo hành sẽ có nhiều khả năng có các vấn đề về hành vi hơn so với những trẻ em khác.

“Những người chồng bạo hành có nhiều khả năng đã từng chứng kiến mẹ mình bị cha đánh đập, hoặc chính họ đã từng bị đánh đập khi còn nhỏ. Những điều đã trải qua thời thơ ấu chính là một yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến việc bản thân họ sau này trở thành người gây ra bạo lực gia đình”, bà Jansen cho biết thêm. Điều này củng cố cho quan điểm rằng bạo lực là một hành vi do con người học từ người khác.

-Hết-

Lưu ý đối với các biên tập báo chí:

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 4.838 phụ nữ từ 18 đến 60 tuổi, đại diện cho nữ giới thuộc độ tuổi này ở Việt Nam. 90 cuộc phỏng vấn chuyên sâu và 4 cuộc thảo luận nhóm cũng đã được tiến hành tại Hà Nội, Huế và Bến Tre. Phương pháp nghiên cứu hoàn toàn giống với phương pháp đã được sử dụng cho Nghiên cứu Đa quốc gia của Tổ chức Y tế Thế giới về Sức khỏe Phụ nữ và Bạo lực Gia đình, bao gồm một phiếu điều tra chuẩn đã được thử nghiệm, và một phương pháp đảm bảo so sánh được các số liệu của nghiên cứu với các số liệu tại các bối cảnh khác.

Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Phối hợp chung giữa Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam về Bình đẳng Giới, do Tổng Cục Thống kê tiến hành với trợ giúp kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và sự tham gia của các chuyên gia tư vấn trong nước từ Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP), Bộ Y tế, và một chuyên gia tư vấn quốc tế. Nghiên cứu được tài trợ từ nguồn ngân sách của Quỹ Thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGF) và Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID). Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận dựa trên tham khảo ý kiến trong tất cả các giai đoạn, trong đó đại diện các bên tham gia thuộc Chính phủ, xã hội dân sự và cộng đồng quốc tế tham gia trong tất cả các giai đoạn của nghiên cứu, từ lập kế hoạch nghiên cứu đến phân tích và xác nhận kết quả, cũng như đưa ra các khuyến nghị liên quan.

Nhấn chuột vào đây để xem bài phát biểu của Tiến sỹ Jean-Marc Olivé, Trưởng Đại diện WHO tại lễ công bố Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với Phụ nữ ở Việt Nam

Để có thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ:

Tiêu điểm

tom_event_390.jpg

72 giờ để mang tới một thế giới tốt đẹp hơn cho trẻ khuyết tật

 

TOM (Tikkun Olam Makers) là tổ chức phi lợi nhuận quốc tế sử dụng các thiết kế và công nghệ để giải quyết những vấn đề đang bị bỏ quên. Sự kiện TOM là nơi gặp gỡ giữa các khó khăn và giải pháp công nghệ. Các đối tượng tham gia với xuất thân và chuyên môn khác nhau sẽ gặp gỡ nhau tại sự kiện “makeathon” diễn ra trong vòng 72 giờ và cùng nhau phát triển một sản phẩm giúp ích cho những người có nhu cầu. TOM tập trung vào các thiết kế hòa nhập dành cho người khuyết tật với chi phí hợp lý. Tikkun Olam Makers trong tiếng Hebrew có nghĩa là thay đổi thế giới và đây là tôn chỉ hoạt động của TOM. (Quý vị vui lòng tham khảo thêm thông tin về TOM tại: www.tomglobal.org)

Năm 2016, Lãnh sự quán Mỹ tại tp. Hồ Chí Minh, Đại sứ quán Israel, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Trung tâm Khuyết tật & Phát triển (DRD), FABLAB Saigon và một số đối tác tới từ các học viện và khối tư nhân đồng tổ chức sự kiện TOM tại tp. Hồ Chí Minh. Sự kiện này là cơ hội duy nhất để trẻ khuyết tật và người giám hộ trình bày các khó khăn mà họ đang gặp phải, cũng như chia sẻ ý tưởng về các sản phẩm có thể giúp họ giảm bớt những khó khăn đó. Dựa trên các ý tưởng này, chuyên gia kỹ thuật sẽ phát triển các giải pháp sáng tạo trong vòng 72 giờ của sự kiện “makeathon”, với mục đích đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn dành cho trẻ khuyết tật.


ban-ki-moon.jpg

Thông điệp của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc về ngày quyền con người

 

Ngày 10 tháng 12 năm 2015 - Giữa những tội ác với quy mô lớn và các hành vi lạm dụng rộng rãi đang diễn ra trên toàn thế giới, ngày Quyền con người là một điểm sáng cho sự đoàn kết phối hợp hành động toàn cầu nhằm thúc đẩy các nguyên tắc vượt thời gian mà chúng ta đã cam kết chung để duy trì.

Trong năm 2015, một năm đánh dấu kỷ niệm 70 năm thành lập của Liên Hợp Quốc, chúng ta có thể lấy cảm hứng từ lịch sử của phong trào thúc đẩy quyền con người hiện đại, bắt đầu nổi lên từ cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

Vào thời điểm đó, Tổng thống Franklin D. Roosevelt của Hoa Kỳ đã xác định bốn quyền tự do cơ bản từ khi sinh ra của tất cả mọi người: tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do mong muốn và tự do khỏi sợ hãi. Vợ ông, bà Eleanor Roosevelt, tham gia lực lượng Liên Hợp Quốc cùng với các nhà hoạt động thúc đẩy quyền con người khác từ khắp nơi trên toàn thế giới đã đưa những quyền tự do thiêng liêng này vào trong Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người.


ban-ki-moon.jpg

Thông điệp của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc nhân ngày quốc tế chống tham nhũng

 

Ngày 9 tháng 12 năm 2015 - Thái độ và phản ứng toàn cầu đối với tình trạng tham nhũng đã có những thay đổi đáng kể. Trước đây việc nhận và đưa hối lộ, tham nhũng và tài chính bất hợp pháp thường được coi là một phần của chi phí kinh doanh thì hiện nay tham nhũng được coi là một hành vi tội phạm đáng bị lên án một cách rộng rãi. Chương trình nghị sự mới năm 2030 dành cho phát triển bền vững cũng như kế hoạch của chúng ta nhằm chấm dứt đói nghèo và đảm bảo cuộc sống nhân phẩm cho tất cả mọi người – đã công nhận sự cần thiết phải chống tham nhũng trên tất cả các mọi hình thức và kêu gọi làm suy giảm các dòng tài chính bất hợp pháp đồng thời thu hồi tài sản bị đánh cắp.

Tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng đến sự phát triển bởi đáng ra các quỹ và ngân sách được dành cho việc đầu tư xây dựng trường học, trạm y tế và các dịch vụ công cộng quan trọng khác thì lại bị chuyển vào tay của bọn tội phạm hoặc các quan chức không trung thực.


ban-ki-moon.jpg

Thông điệp của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc nhân Ngày Thế Giới Phòng Chống AIDS

 

Ngày 1 tháng 12 năm 2015 - Năm nay, chúng ta kỷ niệm ngày thế giới phòng chống AIDS với hy vọng mới. Tôi hoan nghênh sự ủng hộ to lớn của các nhà hoạt động trong lĩnh vực này. Tôi cũng muốn gửi lời khen ngợi tới các nỗ lực không quản khó khăn của các cán bộ nhân viên y tế. Và tôi muốn vinh danh những người bảo vệ nhân quyền với các lập trường nguyên tắc của mình, cũng như sự dũng cảm của tất cả những người đã tham gia tích cực đấu tranh cho tiến bộ toàn cầu chống lại bệnh tật.

Các nhà lãnh đạo thế giới đã nhất trí cam kết sẽ chấm dứt đại dịch AIDS vào năm 2030 - đây là một phần của các Mục tiêu phát triển bền vững mới được thông qua vào tháng 9. Cam kết này phản ánh sức mạnh của sự đoàn kết thống nhất hành động, từ việc đấu tranh phòng chống một dịch bệnh nguy hiểm đã trở thành một trong những phong trào toàn diện nhất trong lịch sử hiện đại.


ban-ki-moon.jpg

Thông Điệp của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc nhân ngày Quốc tế xóa bỏ Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái

 

Ngày 25 tháng 11 năm 2015 - Các tội ác tàn bạo gây ra với phụ nữ và trẻ em gái ở các vùng xung đột, cùng với nạn bạo hành trong gia đình xảy ra ở tất cả các Quốc gia – đây chính là những mối đe dọa nghiêm trọng sự tiến bộ của nhân loại.

Tôi quan ngại sâu sắc trước số phận của phụ nữ và trẻ em gái sống trong những khu vực xung đột vũ trang; họ bị bạo lực, xâm hại tình dục, là nạn nhân của nô lệ tình dục và buôn bán người. Tình trạng bạo lực cực đoan đang định hướng sai lầm cho những giáo lý tôn giáo để biện minh cho tình trạng bắt phụ nữ khuất phục hàng loạt và lạm dụng phụ nữ. Đây không phải là hành vi ngẫu nhiên của bạo lực, hoặc những hậu quả ngẫu nhiên của chiến tranh, mà đây chính là những hành vi có hệ thống nhằm phủ nhận quyền tự do của phụ nữ và muốn kiểm soát cả cơ thể của họ. Khi cả thế giới đang phấn đấu để chống lại và ngăn chặn chủ nghĩa bạo lực cực đoan thì việc bảo vệ và trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái phải là một giải pháp quan trọng.