Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Phát biểu của Ông Anand Grover, Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về quyền của tất cả mọi người được hưởng mức tiêu chuẩn cao nhất có thể đạt được trong chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần

In Email

Ngày: 05/12/2011
Sự kiện: Nhân chuyến công tác của ông Anand Grover, Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về Quyền con người tại Việt Nam, từ ngày 25/11 – 5/12/2011
Địa điểm: Phòng họp hoa hồng của UNDP Việt Nam, 25-29 Phan Bội Châu, Hà Nội
Phát biểu: Ông Anand Grover, Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về Quyền được chăm sóc sức khỏe

Thưa đại diện các cơ quan báo chí,

Thưa các quý ông, quý bà,

Cho phép tôi được bắt đầu bằng lời cảm ơn sâu sắc tới Chính phủ Việt Nam đã mời tôi tới Việt Nam công tác, và đã tạo điều kiện cho tôi có một chương trình làm việc rất phong phú và thú vị với các cuộc họp và các chuyến thăm. Trong chuyến công tác lần này của tôi tới Việt Nam, tôi đã có các buổi gặp mặt với các quan chức Chính phủ, cũng như đại diện các tổ chức quốc tế và xã hội dân sự. Tôi cũng đã đến thăm các trung tâm y tế, trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi và một trại giam. Trong suốt quá trình làm việc, tôi đã nhận được sự tiếp đón trọng thị và nồng ấm. Tôi đã được tham dự những buổi gặp gỡ, trao đổi quan điểm trung thực và thẳng thắn, và các quan chức cấp cao của Chính phủ rất sẵn sàng chia sẻ quan điểm của họ về các vấn đề nhạy cảm. Nhân cơ hội này, tôi xin được cảm ơn tất cả những người đã dành thời gian cho tôi và chia sẻ kinh nghiệm của mình với tôi trong suốt chuyến công tác. Tôi cũng xin được cám ơn Văn phòng Điều phối viên Thường trú của LHQ tại Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để đảm bảo chuyến công tác này diễn ra một cách trôi chảy tốt đẹp. Tôi cũng chân thành cám ơn Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã nỗ lực tổ chức và tạo điều kiện cho chuyến công tác này của tôi.

Trong khán phòng ngày hôm nay, quý vị có thể thấy một tài liệu ngắn giải thích về trách nhiệm của tôi với tư cách là Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về quyền của tất cả mọi người được hưởng mức tiêu chuẩn cao nhất có thể đạt được trong chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần (gọi tắt là quyền được chăm sóc sức khỏe). Nói một cách ngắn gọn, tôi là một chuyên gia độc lập chịu trách nhiệm báo cáo cho Hội đồng Nhân quyền LHQ và Đại Hội đồng LHQ, đồng thời tư vấn cho hai Hội đồng này về việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe. Mặc dù tôi được Hội đồng Nhân quyền của LHQ bổ nhiệm nhưng tôi không phải là nhân viên của Liên Hợp Quốc và vị trí tôi nắm giữ là một vị trí danh dự. Là một chuyên gia độc lập, tôi chỉ đưa ra những ý kiến, nhận định mang tính chuyên môn.

Ngày hôm nay, tôi xin được trao đổi với quý vị một số quan sát bước đầu của tôi qua chuyến công tác. Những quan sát này sẽ được trình bày một cách cụ thể hơn trong báo cáo cuối cùng mà tôi sẽ trình lên Hội đồng Nhân quyền của LHQ vào tháng 6/2012.

Mục đích chuyến công tác của tôi là nhằm tìm hiểu, trên tinh thần hợp tác và đối thoại, Việt Nam đã thực hiện và nỗ lực thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân như thế nào. Trọng tâm của chuyến công tác là 3 vấn đề cơ bản mà tôi nhận thấy đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam: các hệ thống chăm sóc sức khỏe và cơ cấu tài chính, tiếp cận với thuốc, và công tác phòng ngừa và điều trị HIV/AIDS, trong đó tập trung vào những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.

Trước hết, tôi xin được hoan nghênh Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn trong công tác giảm nghèo, giúp cải thiện cuộc sống của hàng triệu người trong vòng hai thập kỷ vừa qua. Cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc nâng cao đời sống cho người dân được thể hiện qua thực tế là Việt Nam đã đạt vượt mức chỉ tiêu đề ra trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ là giảm một nửa tỉ lệ người dân có mức thu nhập dưới 1 đô la Mỹ/ngày. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được phân bổ đồng đều hơn so với nhiều quốc gia láng giềng trong khu vực cũng như các quốc gia khác trên thế giới.

Tôi cũng ghi nhận những nỗ lực đáng hoan nghênh của Việt Nam trong vòng hai thập kỷ vừa qua nhằm cải thiện hệ thống y tế nói chung, cũng như cam kết của Việt Nam nhằm đảm bảo tất cả mọi người dân đều được tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức khỏe. Một hệ thống chăm sóc sức khỏe hoạt động tốt là cơ sở cho việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe, và các số liệu cho thấy đã có những tiến bộ đáng ngưỡng mộ trong nhiều lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trọng yếu, trong đó có sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Chính phủ Việt Nam đã có những cam kết đáng hoan nghênh trong việc đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người. Ví dụ, Quốc hội đã ban hành một nghị quyết nhằm đảm bảo mức tăng trưởng chi tiêu công cho lĩnh vực y tế luôn cao hơn mức tăng trưởng chung của chi tiêu ngân sách nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam chuyển sang một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và Chính phủ nỗ lực tạo nguồn lực cho lĩnh vực y tế, các bạn phải đối mặt với một số thách thức. Để đạt được mục đích này, Chính phủ thực hiện một số chiến lược như ban hành trái phiếu Chính phủ và khuyến khích đầu tư nước ngoài cũng như đầu tư tư nhân trong nước, trong đó có đầu tư qua mô hình hợp tác công – tư (PPP), trong lĩnh vực y tế. Đồng thời, do Việt Nam thực hiện phân cấp quản lý hệ thống y tế và các cơ chế tài chính cho lĩnh vực y tế, nên các cơ sở y tế ở cấp tỉnh và cấp huyện đã có quyền tự chủ lớn hơn, bên cạnh các yếu tố khác, trong việc tạo nguồn thu. Điều này có khả năng dẫn đến việc chi phí cho các hàng hóa và dịch vụ y tế sẽ tăng lên, do đó làm hạn chế hơn khả năng tiếp cận của những đối tượng nghèo và cận nghèo. Vấn đề này, cộng với tỉ lệ lạm phát cao, không những làm nghiêm trọng thêm tình hình mà còn đe dọa tính sẵn có và khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ y tế đối với những người không có khả năng chi trả, do đó cản trở việc thực hiện đầy đủ quyền được chăm sóc sức khỏe.

Để đảm bảo đủ chi tiêu công cho các dịch vụ y tế ở các cấp tỉnh, huyện và cấp cơ sở, tôi khuyến khích Chính phủ xem xét các cơ chế tạo nguồn thu thay thế, ví dụ như áp dụng thuế lũy tiến. Tôi được cho biết là Chính phủ hiện đang xem xét áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá và tăng mức đóng bảo hiểm xã hội từ 4,5% đến 6%, và một phần thuế thu được sẽ dành để chi tiêu trong lĩnh vực y tế công. Cả hai biện pháp này đều rất đáng hoan nghênh.

Như tôi đã đề cập ở trên, cam kết của Việt Nam trong việc giải quyết nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương khác là rất đáng ngưỡng mộ. Chính phủ đã đề ra một số sáng kiến nhằm giải quyết các mối quan ngại này, ví dụ như luật bảo hiểm y tế và quỹ chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Tuy nhiên, cả hai chương trình này đều vấp phải những trở ngại đáng kể trong việc đạt được mục tiêu đề ra. Bảo hiểm y tế chỉ chi trả cho những dịch vụ y tế cơ bản, mà chất lượng của các dịch vụ này cũng cần phải được cải thiện một cách cơ bản. Điều này có nghĩa là người bệnh phải trả các chi phí tốn kém cho các dịch vụ không nằm trong phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế. Mặc dù bảo hiểm y tế chi trả toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cho người nghèo và 50% cho đối tượng cận nghèo, cũng như thực hiện hoàn trả trực tiếp cho các cơ sở y tế, nhưng hầu hết các chi tiêu cho y tế của người dân là chi bằng tiền cá nhân, và trên 30% người dân sống trong các gia đình đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ việc phải chi trả bằng tiền túi cho dịch vụ y tế. Tuy nhiên, những người nghèo và cận nghèo, đặc biệt là những người sống ở khu vực nông thôn, miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn phải chịu gánh nặng của các chi phí phát sinh như ăn ở và đi lại để có thể tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản. Trên thực tế, những chi phí này thường tốn kém hơn so với các dịch vụ y tế mà người dân tìm đến được. Bên cạnh đó, những khoản chi không chính thức (“phong bì”) cho cán bộ nhân viên y tế cũng làm tăng thêm các khoản chi từ tiền túi của tất cả những người sử dụng dịch vụ trong hệ thống y tế, và cản trở việc tiếp cận với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe của người nghèo và cận nghèo.

Tôi đã được cho biết rằng Chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét tăng mức hoàn trả chi phí các dịch vụ y tế cơ bản cho các đối tượng cận nghèo từ 50% lên 70%, cùng với trợ cấp đi lại và ăn uống cho người nghèo. Những động thái này là rất đáng hoan nghênh, nhưng đồng thời cũng cần có thêm nhiều hỗ trợ khác nữa cho người nghèo và cận nghèo.

Thưa các quý ông, quý bà,

Tiếp cận với thuốc men trong khả năng chi trả, an toàn và có chất lượng là một hợp phần cơ bản của quyền được chăm sóc sức khỏe. Chi tiêu cho thuốc men chiếm phần lớn chi phí chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam. Thuốc được mua với mức giá tham khảo dựa trên chi phí thuốc tham khảo cao, dẫn tới giá thành thuốc cao hơn so với một số quốc gia phát triển. Đây là một thực tiễn không phù hợp đối với một quốc gia mà giá thành thuốc vốn đã vượt quá khả năng chi trả của một bộ phận lớn người dân. Hơn nữa, trong khuôn khổ phân cấp quản lý y tế và phân cấp việc ra quyết định trong ngành y tế, nhìn chung ngành y tế đã chuyển trách nhiệm mua sắm sang các cơ sở y tế và các chương trình y tế quốc gia. Với việc làm này, một cách không cần thiết, ngành y tế đã đánh mất quyền lực của mình với tư cách là một bên mua có quy mô lớn, dẫn tới giá thành thuốc cao hơn và không thống nhất trên phạm vi cả nước.

Tôi cũng đã được cho biết rằng Chính phủ Việt Nam hiện đang quan tâm tới việc thúc đẩy sản xuất dược phẩm thay thế cùng gốc (generic) trong nước nhằm đảm bảo đủ lượng thuốc chi phí thấp thông qua tăng cường khả năng cạnh tranh. Mặc dù đây là một diễn biến tích cực đáng hoan nghênh nhưng tôi tin rằng có rất nhiều thách thức phức tạp trong việc phát triển ngành công nghiệp dược phẩm trong nước mà chúng ta cần phải tìm ra và giải quyết.

Bên cạnh đó, Việt Nam hiện đang thực hiện đàm phán ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPPA), hướng tới thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu cho Việt Nam. Trong quá trình đàm phán Hiệp định này, có một nguy cơ là Chính phủ sẽ phải nhất trí với các điều khoản trong Hiệp định TRIPS-plus, và điều  này sẽ ngăn không cho Chính phủ Việt Nam sử dụng những cơ chế linh hoạt của TRIPS. Điều này có nhiều khả năng sẽ làm chậm lại việc đưa các dược phẩm thay thế cùng gốc ra thị trường, trong đó có những dược phẩm được sản xuất trong nước, qua đó khiến cho giá thành thuốc càng tăng cao hơn, như chúng ta đã chứng kiến ở các quốc gia khác trên thế giới.

Trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm kinh phí tài trợ của quốc tế trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS và các các can thiệp y tế khác. Kinh phí tài trợ quốc tế chiếm gần 70% tất cả các nguồn kinh phí liên quan đến công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam, trong đó có kinh phí cho hầu hết các chương trình điều trị ARV. Những thiếu hụt về kinh phí sẽ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiếp cận với các dịch vụ chữa trị cho người nhiễm HIV/AIDS.

Theo các số liệu chính thức, tỉ lệ nhiễm HIV ở Việt Nam là 0,3% đối với toàn dân số, và 0,43% đối với nhóm dân số ở độ tuổi 15-49. Mặc dù tỉ lệ người nhiễm HIV qua xét nghiệm huyết thanh hiện nay có thể ổn định ở một số nhóm đối tượng có nguy cơ và ở một số nơi, nhưng ở những nhóm đối tượng khác và một số nơi khác, tỉ lệ này đang gia tăng, ví dụ như ở nhóm nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, và các con số tuyệt đối hiện ở mức khá cao. Các số liệu chính thức cho thấy tổng số ca nhiễm HIV/AIDS là 193.000, nhưng theo ước tính thì con số thực tế có thể là gần 250.000 trường hợp. Việc thiếu số liệu minh bạch và được xác minh cùng với việc báo cáo không đầy đủ là một vấn đề có tính hệ thống, dẫn đến số liệu không đủ tin cậy. Những vấn đề này càng trở nên nghiệm trọng với hiện tượng kỳ thị những nhóm người dễ bị tổn thương. Theo báo cáo gần đây của Ủy ban Phòng chống AIDS tại Châu Á, những nhóm đối tượng có nguy cơ chính, bao gồm phụ nữ mại dâm, người tiêm chích ma túy, và nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, hiện đang gây trầm trọng hơn bệnh dịch này trên khắp châu lục. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ của hiện tượng này.

Kỳ thị và phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS, người tiêm chích ma túy, phụ nữ mại dâm và nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, đã và đang góp phần gây lây lan bệnh dịch này trong các nhóm đối tượng vừa nêu cũng như lây lan ra cả cộng đồng. Kỳ thị và phân biệt đối xử gây cản trở nghiêm trọng đến các nỗ lực phòng chống lây nhiễm HIV, và trên thực tế càng trở nên trầm trọng hơn dưới tác động của các luật liên quan tới ma túy và mại dâm. Bên cạnh đó, một điều đáng tiếc là việc tạm giữ những đối tượng này trong các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi (trung tâm 05 và 06) cùng với việc điều trị bắt buộc đối với người tiêm chích ma túy và phụ nữ mại dâm càng khiến cho sự kỳ thị và phân biệt đối xử tồn tại dai dẳng hơn.

Hoạt động của các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi không có tác dụng trong việc giảm ma túy và mại dâm, mặc dù đây là một mục tiêu đề ra cho các trung tâm này. Bên cạnh đó, các trung tâm này cũng không đạt được hiệu quả tiết kiệm chi phí, theo như tôi được biết qua các cuộc họp với các quan chức Chính phủ. Việc tạm giữ bắt buộc trong các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi khiến cho chúng ta quan ngại về một quy trình phù hợp cho những người bị tạm giữ, do những người này không có quyền được biết về những cáo buộc (the case) chống lại mình cũng như được biện hộ cho bản thân trước khi quyết định được đưa ra. Hơn nữa, cũng không có đảm bảo gì về việc họ được tiếp cận nhanh chóng với một tòa án để có thể phản biện về tính hợp pháp của việc xác định họ là người nghiện ma túy hay mại dâm sau khi quyết định đã được đưa ra. Việc điều trị cai nghiện cho người sử dụng ma túy trong các trung tâm cai nghiện không được dựa trên bằng chứng thực tế và không có hiệu quả, thể hiện qua tỉ lệ tái nghiện cao. Do hầu hết các trường hợp cai nghiện đều là bắt buộc nên những người bị giữ trong các trung tâm này không được thực hiện quyền tự do không phải điều trị trái với ý muốn cũng như quyền đưa ra sự chấp thuận dựa trên việc được cung cấp thông tin trong tất cả các quyết định có liên quan đến khám chữa bệnh y tế. Các trung tâm này cũng phản tác dụng trong việc thực hiện những nỗ lực phòng chống HIV/AIDS của Chính phủ. Tôi tin rằng cách tiếp cận hiện tại với các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi vi phạm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân.

May mắn là Chính phủ đã thực hiện một số chương trình thí điểm điều trị bằng methadone, một biện pháp ít tốn kém hơn và có hiệu quả hơn trong việc giảm sử dụng ma túy và thúc đẩy tái hòa nhập các đối tượng tiêm chích ma túy với cộng đồng. Tôi rất vui khi được biết rằng dự thảo luật xử lý vi phạm hành chính hiện đang trong quá trình phê duyệt bởi Quốc hội sẽ mở rộng các biện pháp bảo vệ trong quy trình xử lý phù hợp với người tiêm chích ma túy, đồng thời chấm dứt việc tạm giữ người mại dâm trong các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi. Những thay đổi này là rất đáng hoan nghênh và sẽ đem lại những tác động y tế tích cực và to lớn, đặc biệt là liên quan đến HIV/AIDS. Trong Chính phủ cũng đã có quan điểm thiên về hướng đóng cửa các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi này. Tôi hoàn toàn ủng hộ việc đóng cửa các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi. Cần phải đảm bảo rằng những nguồn lực to lớn hiện được đầu tư cho các trung tâm này sẽ được sử dụng cho mục đích mở rộng các biện pháp điều trị thay thế cho người tiêm chích ma túy, trong đó có điều trị bằng methadone và đào tạo nghề tại cộng đồng.

Tôi xin được kết thúc bằng việc nhấn mạnh rằng sự tham gia của những nhóm đối tượng chịu tác động trong quá trình đưa ra quyết định là một hợp phần thiết yếu của quyền được chăm sóc sức khỏe. Công tác theo dõi và đánh giá có hiệu quả hay không phụ thuộc vào khả năng của Chính phủ trong việc lồng ghép các nhóm đối tượng chịu tác động vào tất cả các quyết định lập kế hoạch và thực hiện. Tôi khuyến khích Chính phủ nâng cao vị thế cho các nhóm đối tượng chịu tác động, bao gồm người sống chung với HIV, người tiêm chích ma túy, phụ nữ mại dâm và nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, để cho họ có thể tham gia tích cực vào quá trình đưa ra quyết định và thực hiện mọi quyết định ảnh hưởng tới sức khỏe của họ.

Thưa đại diện các cơ quan báo chí,

Tôi rất biết ơn Chính phủ Việt Nam đã mời tôi tới thăm và làm việc tại đất nước các bạn, tạo điều kiện cho tôi được đào sâu hiểu biết của mình về những vấn đề liên quan tới quyền được chăm sóc sức khỏe. Lời mời này của Chính phủ - cùng với hầu hết những điều tôi đã tìm hiểu được trong chuyến công tác – đã khẳng định Chính phủ Việt Nam rất nghiêm túc coi trọng các vấn đề liên quan đến quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Tôi xin được nhân cơ hội này khuyến khích Chính phủ đưa ra lời mời tới tất cả những cá nhân nắm giữ trọng trách đặc biệt, trao cho các báo cáo viên đặc biệt và chuyên gia độc lập khác những cơ hội tương tự như tôi có được lần này.

Như đã đề cập ở trên, đây chỉ là những phát hiện bước đầu của tôi trong chuyến công tác lần này. Tôi sẽ phát triển những vấn đề này sâu hơn trong báo cáo của tôi trình lên Hội đồng Nhân quyền của LHQ. Cám ơn quý vị đã chú ý lắng nghe.

Bây giờ tôi xin được sẵn sàng trả lời các câu hỏi của quý vị.

Tiêu điểm

myhealth-myright_en.pdf.png

NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS NĂM 2017

 

Ngày 1 tháng 12 năm 2017

 

Michel Sidibé
Tổng Giám đốc UNAIDS
Phó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc

Kỷ niệm ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, chúng ta cùng nhau nêu bật tầm quan trọng của quyền về sức khỏe và những thách thức mà những người sống với HIV và người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV còn đang phải đối mặt trong việc thực hiện quyền về sức khỏe.


contest_680.jpg

Vì một hà nội vui sống, thiết kế không gian công cộng

Hà Nội ngày 17/10/2017 - Với mục tiêu cải thiện môi trường sống của người dân, đồng thời đưa văn hóa nghệ thuật đến với cộng đồng, hướng đến một tương lai đô thị tốt đẹp hơn, Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UN-Habitat) đã xây dựng dự án "Huy động nguồn lực cộng đồng và sự tham gia của giới trẻ trong kiến tạo không gian công cộng xanh, an toàn tại Quận Hoàn Kiếm" (sau đây gọi tắt là dự án Không gian công cộng) thuộc chương trình Block by Block của Văn phòng Trung ương UN-Habitat và công ty Mojang, nhà sáng lập ứng dụng Minecraft.


op-ed-juv-justice-390.jpg

Trừng phạt khắc nghiệt đối với trẻ em vi phạm pháp luật không ngăn chặn được tình hình tội phạm người chưa thành niên tiếp tục gia tăng

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đang được tranh luận trong quá trình sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình sự. Một số người tranh luận rằng phương thức tiếp cận "cứng rắn với tội phạm" là cần thiết để trừng phạt trẻ em nhằm phòng ngừa tình trạng phạm tội tiếp diễn.

Tuy nhiên, nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng do trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển, việc gán cho trẻ em và đối xử với trẻ em như những tội phạm ở độ tuổi nhỏ có thể tác động tiêu cực nghiêm trọng đến sự phát triển và khả năng cải tạo, phục hồi thành công của trẻ.


rc_ai_new_year_card_300.jpg

New Year Greetings from the United Nations Resident Coordinator a.i. in Viet Nam

 

On the occasion of New Year 2017, on behalf of the United Nations family in Viet Nam I wish to reiterate our appreciation and express our warmest wishes to our partners and friends throughout the country. We wish our partners and their families in Viet Nam peace, prosperity, good health and happiness in the coming year.

As we enter the second year of the Sustainable Development Goals era, we look forward to continuing our close cooperation for the sake of Viet Nam’s future development; one which is inclusive, equitable and sustainable, with no one left behind.

Youssouf Abdel-Jelil
United Nations Resident Coordinator a.i. in Viet Nam


WAD2016.jpg

Thông điệp của Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-moon nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS, 1 tháng 12

 

Ngày hôm nay, 35 năm sau khi AIDS xuất hiện, toàn thế giới đã có thể tự hào khi nhìn lại các nỗ lực phòng chống dịch. Nhưng chúng ta cũng phải hướng về phía trước với quyết tâm và cam kết chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030.

Thế giới đã đạt được những bước tiến thực sự to lớn. Số người được điều trị HIV đã tăng cao hơn bao giờ hết. Kể từ năm 2010, số trẻ em bị nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ đã giảm một nửa. Cứ mỗi năm số người tử vong do AIDS lại giảm thêm. Và những người nhiễm HIV đang ngày càng có tuổi thọ dài hơn.