Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Tái thiết lập, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và bảo vệ người nghèo

In Email

Hội nghị Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ – tháng 6/2011. Tham luận của các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam

Giới thiệu

Sáu tháng vừa qua đã đánh dấu một giai đoạn có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 thành công đã thông qua Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội (CLPT KTXH) giai đoạn 2011-2020 và Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (KHPT KTXH) giai đoạn 2011-2015, dự kiến trình Quốc hội phê duyệt vào tháng 11 tới đây. CLPT KTXH và KHPT KTXH là hai văn bản chỉ đạo đường lối phát triển cho Việt Nam trong thập niên tới, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của một cách tiếp cận cân bằng hơn và bền vững hơn để đảm bảo phát triển xã hội, phát triển con người và phát triển kinh tế cho đất nước và nhân dân Việt Nam.

Như đã được xác nhận trong CLPT KTXH và KHPT KTXH, Việt Nam đã đạt được vị thế quốc gia có thu nhập trung bình. Cũng như các quốc gia có thu nhập trung bình khác, Việt Nam đang trải qua những bước chuyển đổi nhanh chóng về mặt kinh tế - xã hội và đồng thời phải đối mặt với các thách thức. Các thách thức này ở Việt Nam bao gồm lượng ODA giảm, hiện tượng nghèo dai dẳng và bất bình đẳng gia tăng, di cư và đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh, già hóa dân số, và biến đổi khí hậu, cùng với những thách thức khác. Những thể chế hiện đại và vững mạnh có thể thúc đẩy tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia, đồng thời đảm bảo một cách tiếp cận thông suốt giữa các cơ quan của Chính phủ, đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong bối cảnh những thách thức Việt Nam đang phải đương đầu ở trước mắt.

Ngày nay, Việt Nam vẫn tiếp tục phải đối mặt với những thách thức của một nền kinh tế đang trong giai đoạn hồi phục, cùng với những thay đổi xã hội nhanh chóng. Năm 2011 đã chứng kiến lạm phát gia tăng cao và sự bất ổn định của thị trường tài chính, giá cả thực phẩm và nhiên liệu cũng như chi phí cho cuộc sống đều tăng nhiều gây tác động đến các gia đình và doanh nghiệp ở Việt Nam. Việt Nam đã thể hiện sự cương quyết trong việc đối phó với tình hình này nhằm kìm chế lạm phát và tái thiết lập sự ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng vẫn cần tiếp tục duy trì quyết tâm trong vòng vài tháng trước mắt, đồng thời đẩy mạnh các nỗ lực bảo trợ xã hội và giảm nghèo để có thể đạt được tăng trưởng trên diện rộng và cho tất cả mọi người.

Đánh giá Tình hình Kinh tế Vĩ mô

Trong hơn hai năm sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Việt Nam đã tiếp tục được chứng kiến tăng trưởng kinh tế ổn định, qua đó củng cố địa vị của Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và đạt được vị thế quốc gia có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.200 đô la Mỹ trong năm 2010. Tỉ lệ tăng GDP năm 2009 là 5,32% và năm 2010 là 6,78%. Trong 3 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã tiếp tục đạt được tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao là 5,43% so với cùng kỳ năm 2010.

Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, lượng ngoại tệ ồ ạt đổ vào trong những năm 2007-2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự bất ổn định của thị trường ngoại tệ, cùng với việc phụ thuộc quá mức vào tăng trưởng nhờ đầu tư, đã đặt ra các thách thức cho việc quản lý nền kinh tế vĩ mô, và đặc biệt cho việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam.

Giai đoạn 2008 – 2010 được đặc trưng bởi sự bất ổn định của nền kinh tế vĩ mô, trong đó có những giai đoạn lạm phát ở mức rất cao như nửa đầu năm 2008 và 2010, và hiện tượng này lại tái diễn trong năm 2011. Bốn tháng đầu năm nay đã chứng kiến việc lạm phát quay trở lại mức rất cao của năm 2008, lên đến 17,5% trong tháng 4/2011. Trong bốn tháng đầu năm, tỉ lệ lạm phát đã tăng 13,95% so với cùng kỳ năm 2010, vượt xa chỉ tiêu 7% cho cả năm do Quốc Hội đề ra. Các ý kiến dự đoán rằng lạm phát năm 2011 sẽ phá vỡ mức kỷ lục năm 2008 là 19,9% có lẽ đã tỏ ra chính xác. Lạm phát thực phẩm cả thiết yếu và không thiết yếu đều đã tăng trong vòng vài tháng qua.

Giống như nhiều quốc gia Châu Á khác, Việt Nam đang phải đối mặt với các áp lực lạm phát lớn hơn nhiều so với nhiều khu vực khác trên thế giới. Giá thực phẩm, chi phí giao thông vận tải và nhà ở gia tăng là một số trong những nhân tố khiến lạm phát tăng cao ở Việt Nam, cũng như trong khu vực. Tuy nhiên, trong thập kỷ vừa qua Việt Nam đã có mức lạm phát thuộc hàng cao nhất trong khu vực và trên thế giới, với tỉ lệ lạm phát hiện nay cao hơn 10% so với các quốc gia khác trong khu vực. Nguyên nhân của hiện tượng này một phần là do các yếu tố nội tại, ví dụ như các nhà hoạch định chính sách dành ưu tiên cho việc đạt được tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao hơn là đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng chính sách tiền tệ và tài chính lỏng lẻo trong một thời gian dài đã có những tác động tiêu cực đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và dẫn đến những giai đoạn lạm phát cao lặp đi lặp lại, trong đó có năm 2011.

Trước hết, đầu tư công thiếu hiệu quả là một vấn đề diễn ra song song với thâm hụt ngân sách đáng kể. Đầu tư công thiếu hiệu quả được thể hiện qua tỉ số đầu tư/tăng trưởng (ICOR) rất cao của Việt Nam, lên đến 6-7, cao hơn khoảng 1,5 lần so với mức trung bình là 3-5 ở các quốc gia khác trong khu vực. Tương tự như vậy, tỉ lệ lợi nhuận tính trên giá trị cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước rất thấp, chỉ ở mức 6,3% so với 17,6% của các công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán và 28% của các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước tạo được ít việc làm hơn so với các công ty tư nhân và công ty có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Đầu tư công thiếu hiệu quả và quá mức cũng đã dẫn đến lượng hàng nhập khẩu tăng, gây nên thâm hụt thương mại trầm trọng hơn. Trường hợp của Vinashin chỉ là một ví dụ của những doanh nghiệp nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả, gây kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

Thứ hai, chính sách tiền tệ lỏng lẻo đã dẫn đến lượng cung ứng tiền tệ (M2) cao, và cũng đã gây nên hiện tượng tăng trưởng tín dụng. Các số liệu của ADB cho thấy cung tiền M2 đã tăng trung bình mỗi năm thêm 31,2% trong giai đoạn 2000-2009. Ngay cả trong năm 2010, khi Chính phủ theo đuổi chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn, thì cung tiền cũng vẫn ở mức cao – 27%. Mặc dù cung tiền cao có thể giúp duy trì mức lãi suất thấp trong thời gian ngắn, nhưng không thể tránh khỏi việc nó đã dẫn đến hiện tượng giá cả cao hơn trong thời gian dài.

Thứ ba, trước đây khi nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng quá nóng và tỉ lệ lạm phát tăng cao, Chính phủ đã phản ứng bằng cách sử dụng chính sách tiền tệ nhằm hạ nhiệt nền kinh tế mà không đồng thời điều chỉnh chính sách tài chính, trong đó có chi tiêu công. Các doanh nghiệp tư nhân đã bị ảnh hưởng nhiều nhất do lãi suất ngân hàng cao, trong khi các doanh nghiệp nhà nước vẫn được chiều chuộng với lượng chi tiêu và đầu tư công cao tiếp tục được rót vào. Nợ công tiếp tục tăng lên trong khi đầu tư công thiếu hiệu quả đã có tác động tiêu cực đến chất lượng của tăng trưởng.

Một nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tiến hành gần đây dưới sự tài trợ của Liên Hợp Quốc đã cho thấy mặc dù giá cả thế giới có tác động trực tiếp lên giá cả sản xuất, và điều này qua thời gian được phản ánh qua giá tiêu dùng và tỉ lệ lạm phát cao hơn, nhưng những đợt lạm phát cao tái đi tái lại ở Việt Nam phần lớn là do các nhân tố nội tại như đã đề cập ở trên. Chính phủ Việt Nam sẽ cần phải hành động một cách quyết đoán nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Nghị quyết 11 là một sự phát triển rất đáng hoan nghênh xét ở khía cạnh này, do văn bản này đề cập trực tiếp đến các yếu tố nói trên và qua đó thể hiện một bước chuyển đổi chính sách quan trọng từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian dài hạn hơn.

Tái thiết lập và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô

Thực hiện Nghị quyết 11

Các nỗ lực của Chính phủ kể từ sau Tết Nguyên đán nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và kìm chế lạm phát rất đáng được hoan nghênh. Nghị quyết số 11 của Chính phủ được đưa ra ngày 24/2/2011 đã đánh dấu một bước ngoặt trong định hướng chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Lần đầu tiên trong nhiều năm, tăng trưởng kinh tế không còn được coi là một ưu tiên ngắn hạn hàng đầu, thể hiện sự đồng thuận ngày một lớn đối với yêu cầu xác định tốt hơn các chỉ tiêu không chỉ về “số lượng” mà còn về “chất lượng” của tăng trưởng và phát triển. Nghị quyết 11 đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP thấp hơn trước đây, đồng thời đề ra một loạt các biện pháp mạnh mẽ nhằm kìm chế lạm phát, phục hồi sự ổn định kinh tế vĩ mô, và tăng cường bảo trợ xã hội. Các biện pháp này rất đáng được hoan nghênh, và những thay đổi về chính sách được đề cập trong Nghị quyết 11 đều được công nhận rộng rãi là phù hợp và được thiết kế tốt.

Chính phủ đã rất chủ động trong việc sử dụng lãi suất và giảm giá tiền tệ nhằm chống lại lạm phát. Tuy nhiên, những áp lực khiến cho tỉ giá hối đoái đi xuống, dự trữ ngoại tệ thấp và thâm hụt thương mại cao vẫn là những mối quan ngại. Vẫn còn những thách thức trước mắt đối với việc thực hiện Nghị quyết 11 và tính hiệu quả của Nghị quyết này. Việc thực hiện cần đặt mục tiêu rõ ràng đối với các khía cạnh khác nhau của lạm phát, thông qua phân biệt một cách kỹ lưỡng giữa các biện pháp nhằm kiểm soát lạm phát thực phẩm và nhiên liệu với các biện pháp nhằm kiểm soát lạm phát cơ bản, nhằm tránh việc các biện pháp này lại kìm hãm tăng trưởng kinh tế.

Ngành tài chính tiếp tục ở tình trạng nguy cơ cao do tăng trưởng tín dụng nhanh, cần được kìm hãm một cách thận trọng. Nghị quyết 11 đề ra mục tiêu giảm tăng trưởng tín dụng từ 23% xuống dưới 20% và dự kiến giảm 50.000 tỉ đồng (2,38 tỉ đô Mỹ) trong tổng lượng cung tiền. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần giảm tăng trưởng tín dụng ở các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, trong khi duy trì hoặc mở rộng tăng trưởng tín dụng cho các doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả và cho lĩnh vực xuất khẩu.

Chỉ riêng việc thay đổi các chính sách tiền tệ chưa phải là một công cụ hữu hiệu để có thể giảm lạm phát nhanh chóng. Các giải pháp về chính sách tiền tệ, như giảm lãi suất ngân hàng, thường được đưa ra sau khi đã có các dấu hiệu đầu tiên của lạm phát gia tăng, và do đó thường không theo kịp tốc độ lạm phát. Trung bình phải mất trên 5 tháng để các biện pháp này có thể phát huy tác dụng. Đến lúc đó thì thường cả xã hội đã phải sống chung với lãi suất cao từ 7 đến 8 tháng, với những tác động không tránh khỏi đối với thái độ và hành vi của người tiêu dùng, khiến cho việc kìm chế lạm phát trở nên khó khăn hơn.

Các biện pháp chính sách tài chính được đưa ra trong Nghị quyết 11 bao gồm việc giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 5% GDP và cắt giảm 10% chi tiêu công thường xuyên trong năm 2011, và dự kiến cắt giảm 60.000 tỉ đồng (2,86 tỉ đô la Mỹ) trong tổng lượng cung tiền. Cùng với các biện pháp giảm tăng trưởng tín dụng, những chính sách này sẽ cắt giảm trên 110.000 tỉ đồng (5,24 tỉ đô la Mỹ) tổng cầu. Tuy nhiên, cần làm rõ số lượng 10% cắt giảm trong đầu tư công thường xuyên sẽ được tiến hành ở đâu, để đảm bảo các đối tượng hưởng lợi và các chương trình quốc gia dài hạn chủ đạo không bị ảnh hưởng một cách tiêu cực. Cần ưu tiên cắt giảm chi tiêu trong các lĩnh vực đầu tư công thiếu hiệu quả, chứ không phải ở các chương trình xã hội hay các lĩnh vực có tiềm năng phát triển, tạo việc làm và đem lại giá trị gia tăng cao.

Xét ở khía cạnh này, cam kết mạnh mẽ của Chính phủ sẽ giảm đầu tư cho những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả là một dấu hiệu tích cực. Tuy nhiên, cần có những động thái quyết đoán hơn nhằm cắt giảm các chương trình đầu tư công có quy mô lớn nhưng không cần thiết, trong đó có các chương trình do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần phải củng cố một cách đáng kể hệ thống đánh giá quốc gia các dự án đầu tư công, dựa trên các tiêu chí minh bạch để đảm bảo thu được lợi ích kinh tế, đánh giá các tác động xã hội, bảo vệ môi trường và khả năng chống biến đổi khí hậu.

Quyết định gần đây của Chính phủ giảm 9,3% giá của đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ là nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam và qua đó cải thiện cán cân thương mại. Tuy nhiên, việc đồng tiền mất giá lại góp phần đáng kể gia tăng lạm phát. Những thời kỳ tỉ giá hối đoái bị bóp méo gần đây trong các năm 2009 và 2010 trên thị trường ngoại tệ, đặc biệt là ở chợ đen do niềm tin vào đồng tiền Việt Nam giảm sút, hiện tượng đầu cơ và đô la hóa, đều đã góp phần gây nên tỉ lệ lạm phát cao liên tục. Thâm hụt thương mại duy trì ở mức cao - 12 tỉ đô la Mỹ, tức là 12% GDP trong năm 2010, và trong khi tình hình xuất khẩu đã được cải thiện nhưng vẫn không theo kịp lượng hàng nhập khẩu gia tăng để phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Hầu hết các sản phẩm của Việt Nam đều phụ thuộc vào các nguyên liệu thô được nhập khẩu và các đầu vào khác, chiếm đến trên 80% tổng chi phí sản xuất.

Việc điều chỉnh giá cơ bản của một số yếu tố đầu vào như xăng và điện trong tháng 2 và tháng 3, cùng với việc giảm giá trị đồng tiền, đã gây nên lạm phát cao kể từ cuối quý 1 năm 2011. Các biện pháp này cũng tác động lên hành vi của người tiêu dùng, đặc biệt là khi rất có thể trước mắt sẽ có thêm các điều chỉnh về giá nhiên liệu và điện dựa trên các cơ chế thị trường. Phải sau hơn 6 tháng có tỉ lệ lạm phát ổn định thì ký ức của người dân về lạm phát cao mới bắt đầu mờ đi. Chính phủ cần duy trì tỉ lệ lạm phát ở mức thấp trong vòng ít nhất 6 tháng mới có thể xây dựng lại niềm tin cho người tiêu dùng. Thêm nữa, các cơ chế thị trường chỉ hoạt động hiệu quả khi cạnh tranh lành mạnh được khuyến khích, mà điều này lại không diễn ra ở một số lĩnh vực, ví dụ như ngành xăng dầu là nơi chỉ có các doanh nghiệp nhà nước được phép hoạt động. Cần phải có sự can thiệp của Nhà nước, và mặc dù về lâu dài vẫn cần phải điều chỉnh giá nhiên liệu, việc lựa chọn thời điểm thực hiện cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

Nghị quyết 11 được mong đợi sẽ kéo tỉ lệ lạm phát xuống trong quý 3 năm 2011. Tuy nhiên, Chính phủ sẽ cần phải tiếp tục hành động một cách kiên quyết nhằm đảm bảo việc thực hiện Nghị quyết có hiệu quả. Những nỗ lực lớn hơn nhằm tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách toàn diện các doanh nghiệp nhà nước và giảm chi tiêu công không hiệu quả, cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng ở những lĩnh vực đạt được tăng trưởng bền vững và đóng góp lớn nhất vào các mục tiêu phát triển chung, là những yếu tố chủ đạo giúp kìm chế lạm phát và đảm bảo rằng Việt Nam có thể vượt qua những thời điểm khó khăn này, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô về lâu dài và tiếp tục đạt được phát triển kinh tế - xã hội trên diện rộng.

Bảo vệ người nghèo trước bất ổn định kinh tế vĩ mô

Các tác động xã hội đối với người nghèo

Lạm phát có tác động lớn hơn đối với người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương, do họ phải dành một phần lớn hơn trong chi tiêu của mình cho thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu khác so với các gia đình khá giả. Theo số liệu Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2008, bộ phận dân cư nghèo nhất dành 65% chi tiêu của gia đình họ cho thực phẩm, trong khi bộ phận dân cư giàu nhất chỉ chi 45%. Lạm phát cũng ảnh hưởng đến khả năng của người nghèo và người dễ bị tổn thương chi tiền dành dụm cho chăm sóc sức khỏe, do nguồn thu nhập hạn chế nay phải giãn ra nhiều hơn cho các nhu cầu thiết yếu khác.

Người nghèo đô thị, đặc biệt là người lao động di cư nghèo, cán bộ công nhân nghỉ hưu, những người có tiền công lao động thấp và làm các nghề không chính thức, là những đối tượng chịu tác động nhiều nhất. Những nghiên cứu đánh giá nhanh được Trung tâm Phân tích và Dự báo thuộc Viện Khoa học Xã hội tiến hành gần đây cho thấy người nghèo đô thị bị ảnh hưởng bởi giá cả tăng cao ở một loạt các mặt hàng và dịch vụ, bao gồm thực phẩm, điện và nhiên liệu, xăng dầu, chi phí đi lại và nhà ở, và các dịch vụ xã hội. Người nghèo và người di cư ở đô thị là những người phải gánh chịu nhiều nhất tác động của việc tăng giá điện. Còn đối với người nghèo ở nông thôn, thì những người mua thực phẩm thiết yếu chịu ảnh hưởng nhiều nhất, và mặc dù một số đơn vị sản xuất thực phẩm thiết yếu có thể thu lợi từ giá thực phẩm tăng cao, nhưng những lợi ích này trên thực tế lại bị chi phí đầu vào tăng cao lấn át. Một nghiên cứu gần đây do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành cho thấy thu nhập của các hộ gia đình ở nông thôn từ các nguồn sản xuất nông nghiệp không tăng lên, song hành với chi phí đầu vào tăng trong các thời kỳ diễn ra lạm phát cao. Năm 2008, thu nhập từ các nguồn nông nghiệp tăng 10-20% trong khi chi phí đầu vào tăng từ 30-50%.

Giá thực phẩm tăng cũng tác động đến an ninh lương thực. Ở Việt Nam điều này thể hiện rõ trong giai đoạn 2007-2008 và các tháng đầu năm 2011. Theo các số liệu được trình bày tại một hội thảo gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ước tính có 838.600 người dân thuộc các hộ gia đình làm nông nghiệp bị thiếu ăn trong 2 tháng đầu năm 2011, đây là con số lớn nhất kể từ năm 2007 và gần gấp đôi con số của cùng kỳ năm 2010. Năm 2008, lạm phát giá thực phẩm đã khiến 4 triệu người bị thiếu đói – con số lớn nhất được ghi lại trong suốt giai đoạn 2006-2010. Phụ nữ và trẻ em thường là những đối tượng bị tác động nhiều nhất. Nhiều hộ gia đình cho biết họ phải cắt giảm chi tiêu cho thực phẩm và không thể cho con em tiếp tục đi học trong giai đoạn lạm phát cao của năm 2008.

Về lâu dài, lạm phát cũng có tiềm năng khiến cho nhiều hộ gia đình phải quay trở lại tình trạng nghèo đói. Ví dụ, những dự báo dựa trên số liệu Khảo sát VHLSS vào các năm 2002, 2004, và 2006 gợi ý rằng tỉ lệ nghèo trên thực tế có thể đã tăng 1,5% do hậu quả của lạm phát vào năm 2008. Điều này được thể hiện qua tỉ lệ giảm nghèo chậm lại trong giai đoạn 2006-2008, trong đó tỉ lệ nghèo chỉ giảm 1,5%, từ 16% năm 2006 xuống còn 14.5% năm 2008; so với mức giảm 3,5% giữa các năm 2004 và 2006 và 19,5% giữa các năm 2002 và 2004.

Lạm phát kéo dài cũng có tác động tiêu cực đối với việc tạo việc làm. Cuộc khủng hoảng tài chính và thời kỳ lạm phát cao trước đây trong năm 2008 đã đi đôi với một sự sụt giảm về các việc làm có đảm bảo. Tỉ lệ người lao động làm việc theo các hợp đồng lao động có đảm bảo đã sụt giảm giữa hai thời điểm tiến hành hai cuộc nghiên cứu lực lượng lao động gần đây nhất trong năm 2007 và 2009: số người lao động làm việc chỉ theo hợp đồng miệng hoặc không có hợp đồng đã tăng từ 42% lên gần 45%.  Phụ nữ là đối tượng đặc biệt bị ảnh hưởng: số lượng phụ nữ lao động tại gia đình không được trả lương trong năm 2009 đã tăng lên nhiều so với năm 2007, điều này cho thấy phụ nữ bị mất cơ hội kiếm thu nhập ở cả khu vực kinh tế chính thức và không chính thức trong giai đoạn nói trên.

Việc lạm phát quay trở lại mức cao hiện nay đã tác động đến các mối quan hệ lao động và điều kiện lao động. Kể từ đầu năm, số lượng các cuộc đình công đã tăng lên đáng kể, với trên 200 cuộc đình công được ghi nhận trong quý I năm 2011. Hầu hết các cuộc đình công này khởi phát do giá cả tăng cao, bao gồm giá thực phẩm và nhiên liệu tăng và tiền thuê nhà của người lao động cũng tăng. Nhiều doanh nghiệp cũng đang chứng kiến tỉ lệ thay đổi nhân sự cao, lên đến 50% mỗi năm ở các vùng công nghiệp hóa nhất. Tỉ lệ thay đổi nhân sự cao càng trở nên trầm trọng dưới tác động của bất ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát cao.  Làn sóng đình công và sự bất ổn định gần đây do lạm phát cao đem lại cho thấy yêu cầu lớn hơn đối với việc phải xây dựng một cách kịp thời các cơ chế và thông lệ cho quan hệ công nghiệp có hiệu quả ở Việt Nam.

Trợ cấp thất nghiệp cũng không đủ để bảo vệ những người lao động bị ảnh hưởng nhiều nhất. Phạm vi thực hiện bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn hạn chế ở Việt Nam và nhiều người lao động mất việc làm thuộc các ngành nghề lao động chính thức đã phải chịu thiệt thòi do chủ lao động ‘không có khả năng’ chi trả trợ cấp thôi việc, bao gồm bảo hiểm y tế và trợ cấp thất nghiệp, trong thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008/2009. Người lao động không chính thức và người lao động di cư nghèo cũng rất ít được tiếp cận với an sinh xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản, và lạm phát cao có thể đẩy họ sâu hơn vào nghèo đói. Phụ nữ - đối tượng tập trung nhiều trong khu vực lao động không chính thức và thường phải làm những công việc khiến họ dễ bị tổn thương hơn, kiếm được ít tiền hơn – là những đối tượng đặc biệt dễ bị tác động.

Nghị quyết 11 đề ra các biện pháp quan trọng nhằm bảo vệ người nghèo trước tác động của lạm phát cao và bất ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm các biện pháp giảm nghèo và đảm bảo bảo trợ xã hội cho các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, các thông tin cập nhật về hiệu quả và tác động của các biện pháp này vẫn còn hạn chế.

Trong khi các sáng kiến như trợ cấp bù giá điện cho người nghèo rất đáng được hoan nghênh, các sáng kiến này có thể vẫn chưa đến được với những đối tượng cần nhất, ví dụ người di cư nghèo không có đăng ký nhân khẩu nên không tiếp cận được với những lợi ích nói trên. Chính sách này cũng khó có thể đến được với những người di cư nghèo thanh toán tiền điện qua chủ nhà nơi họ thuê trọ.

Như kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy, việc đưa ra các chính sách, chương trình và cơ chế thực hiện cho công tác giảm nghèo và bảo trợ xã hội là yếu tố thiết yếu nhằm đảm bảo công tác bảo trợ xã hội và trợ giúp người nghèo được tiến hành ngay lập tức khi có khủng hoảng xảy ra. Tuy nhiên, các giai đoạn bất ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát cao thường cho thấy những bất cập trong công tác bảo trợ xã hội ở Việt Nam. Cần có sự linh hoạt hơn để đảm bảo các hình thức tổn thương mới và đang nổi lên có thể được giải quyết, và những nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương mới nổi lên, như người nghèo đô thị, người nhiễm HIV và người khuyết tật, người lao động di cư và người lao động thuộc khối lao động không chính thức, trong đó có nhiều người không có đăng ký nhân khẩu và do đó không thể tiếp cận với bảo trợ xã hội và các dịch vụ xã hội, có thể tiếp cận với trợ cấp và hỗ trợ xã hội. Các dịch vụ bảo trợ xã hội, trong đó có hỗ trợ chăm sóc con cái, cũng là yếu tố quan trọng giúp phụ nữ có thể tiếp cận với các cơ hội việc làm chính thức.

Về lâu dài, việc xây dựng một hệ thống xã hội tiến bộ và bao gồm mọi đối tượng là rất cần thiết, trong đó có kết hợp các chính sách và chương trình giảm nghèo và trợ cấp xã hội hiện có. Điều này sẽ đảm bảo sự thống nhất, tính hiệu quả và hiệu lực, và tạo khả năng tiếp cận toàn diện với bảo trợ xã hội cho tất cả mọi công dân Việt Nam đang phải đối mặt với các cú sốc và khủng hoảng về kinh tế, sức khỏe và môi trường. Về khía cạnh này, Liên Hợp Quốc hoan nghênh việc Chính phủ gần đây đã ban hành Nghị quyết về Định hướng Giảm nghèo Bền vững giai đoạn 2011-2010, trong đó nêu bật cam kết của Chính phủ hướng tới một hệ thống giảm nghèo thống nhất và lồng ghép hơn.

Do số liệu và thông tin về tác động của lạm phát cao và của các biện pháp can thiệp của Chính phủ như trong Nghị quyết 11 còn rất hiếm, một điều rất quan trọng là cần theo dõi chặt chẽ các tác động của lạm phát và bất ổn định kinh tế vĩ mô đối với mức sống và sinh kế của người nghèo. Ở góc độ này, quyết định của Tổng Cục Thống kê tiến hành khảo sát lực lượng lao động thường xuyên hơn trong năm 2011 để đảm bảo thông tin về lao động – việc làm được cập nhật theo quý là một diễn biến rất tích cực. Bên cạnh đó, Liên Hợp Quốc cùng với các đối tác khác sẽ tiếp tục hỗ trợ Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Bộ LĐ-TB-XH tiến hành các nghiên cứu đánh giá tác động nhanh nhằm cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và Quốc Hội các thông tin kịp thời về thực tế các doanh nghiệp và các hộ gia đình dễ bị tổn thương, trong đó có các hộ gia đình có trẻ em, bị tác động như thế nào do lạm phát cao, cũng như về hiệu quả của Nghị quyết 11.

Các biện pháp được đưa ra trong Nghị quyết 11 nhằm đảm bảo tính minh bạch, từ đó các doanh nghiệp, các hộ gia đình và khối doanh nghiệp được tiếp cận với các thông tin cập nhật về tài chính, giá cả, các chính sách phúc lợi xã hội, và các chính sách cho người nghèo, là rất đáng hoan nghênh. Cần có sự minh bạch trong công tác xây dựng và thực hiện chính sách, cùng với công tác truyền thông rộng rãi, mạnh mẽ và hiệu quả, nhằm tăng cường niềm tin của người dân đối với Nhà nước và nâng cao nhận thức của người dân đối với các chính sách của Chính phủ  nhằm kìm chế lạm phát và trợ giúp người nghèo, người dễ bị tổn thương.

Liên Hợp Quốc tại Việt Nam kêu gọi Chính phủ ở các cấp trung ương và địa phương tiếp tục chú trọng giải quyết tình trạng tăng trưởng kinh tế không đồng đều giữa các vùng và các nhóm dân số có vị trí kinh tế-xã hội khác nhau. Phát triển có ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với tăng trưởng kinh tế đơn thuần, đó là sự nâng cao tiêu chuẩn sống của nhân dân và mở rộng các cơ hội và sự lựa chọn của mọi người. Trong khía cạnh này, sự tham gia rộng rãi, tính minh bạch của thông tin xã hội, trách nhiệm cao của các công chức nhà nước và những nỗ lực chống tham nhũng mạnh mẽ hơn nữa sẽ mang lại những lợi ích về cả tăng trưởng kinh tế, lẫn sự phát triển bền vững và rộng lớn hơn về xã hội và con người.

Chỉ số Hiệu quả Quản lý Hành chính Công cấp tỉnh (PAPI) năm 2010 đã xác định rất rõ “lợi nhuận của quản trị công” (“governance dividend”). Quản trị và quản lý hành chính công tốt luôn mang đến những kết quả tiến bộ về phát triển con người. Các tỉnh có chỉ số PAPI cao cũng thường có Chỉ số Phát triển Con người (HDI) cao. Hà Tĩnh, tỉnh chủ trì Hội nghị này cũng không phải là ngoại lệ. Hà Tĩnh đã thể hiện rất tốt cả về chỉ số PAPI và HDI, và là một minh chứng rõ ràng là quản trị công tốt luôn song hành với phát triển con người tốt.

Bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Kể từ năm 2000, Việt Nam đã chú trọng phát triển khối doanh nghiệp tư nhân, và điều này đã được thúc đẩy bởi tự do hóa thương mại & đầu tư và các cải cách theo định hướng thị trường, góp phần đem lại tăng trưởng kinh tế rất đáng kể cho đất nước. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 98,4% trong khối doanh nghiệp tư nhân (“ngoài quốc doanh”) hiện có, với 87% tổng số lao động có trả lương. Trong suốt thời gian nói trên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, duy trì tính linh động cao của thị trường lao động và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các tỉnh thành, giữa khu vực nông thôn và thành thị.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu như vậy, nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam vẫn còn yếu kém về khả năng cạnh tranh, về đổi mới, nguồn nhân lực, các mạng lưới và khả năng sẵn sàng cạnh tranh trên các thị trường quốc tế. Tín dụng bị thu hẹp trong năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu theo sau đó đã nêu bật tính dễ bị tổn thương của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước các cú sốc tài chính từ bên ngoài. Trong bối cảnh khối doanh nghiệp tư nhân vẫn ở các giai đoạn đầu của phát triển, Chính phủ cần đảm bảo các doanh nghiệp vừa và nhỏ được bảo vệ một cách hiệu quả trước tác động của lạm phát, tỉ lệ tín dụng cao và các bất ổn định tài chính.

Hiện nay, tỉ lệ lạm phát cao đang có những tác động nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt do lãi suất mà các ngân hàng thương mại áp dụng với các doanh nghiệp, gây khó khăn cho các doanh nghiệp này trong việc huy động đầu vào. Mặc dù lãi suất áp dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được Ngân hàng Nhà nước quy định tối đa là 14% nhưng nhiều ngân hàng vẫn phá vỡ mức trần này. Các khoản vay với lãi suất 19-20% là phổ biến, với lãi suất rất cao lên đến 25-26% áp dụng cho các doanh nghiệp. Hệ quả là các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chịu khá nhiều áp lực, do họ không thể chi trả nổi mức lãi suất nói trên nhưng lại cần nguồn vốn để duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phải sử dụng các khoản vay để vận hành doanh nghiệp bởi vì nguồn vốn tự có của họ rất hạn chế. Hậu quả là nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải giảm khối lượng sản xuất và cắt giảm nhân công. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác thì không có cơ hội tìm đủ nguồn vốn để mở rộng thị trường.

Các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp kinh tế vi mô do phụ nữ điều hành là những đơn vị đặc biệt bị ảnh hưởng. Nhiều chủ doanh nghiệp là phụ nữ phải đối mặt với những khó khăn lớn hơn trong việc tiếp cận thị trường, các dịch vụ phát triển kinh doanh, và nguồn tín dụng để điều hành và mở rộng công việc kinh doanh của họ. Phụ nữ thường điều hành các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn, đặt tại gia đình, và loại hình doanh nghiệp này thường dễ bị tác động khi lãi suất và chi phí đầu vào tăng cao. Nếu tình hình này tiếp diễn thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sẽ phá sản, từ đó sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế do các doanh nghiệp này chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Một số doanh nghiệp nhỏ hơn có thể sẽ bị đẩy trở lại khu vực kinh tế không chính thức mà ở đó cả chủ doanh nghiệp và người lao động đều phải đối mặt với những thách thức do điều kiện làm việc bấp bênh và thu nhập không ổn định.

Chính phủ cần đưa ra một cách tiếp cận lồng ghép nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với tín dụng có mức lãi suất hợp lý nhằm duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp, cải thiện khả năng tiếp cận với các thị trường và dịch vụ, tạo việc làm và tiếp tục đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của cả nước. Một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định là yếu tố then chốt đối với sự vững mạnh của các doanh nghiệp vi mô, nhỏ và vừa, do các doanh nghiệp này dễ chịu tác động bởi những thay đổi chính sách không lường trước hơn so với các công ty lớn. Ổn định kinh tế vĩ mô cũng là yếu tố quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tích lũy, đồng thời tạo cơ chế cho họ sử dụng các khoản tích lũy đó vào việc cải thiện các dịch vụ của mình, cũng như vào việc đầu tư.

Một yếu tố then chốt khác là môi trường kinh doanh có tính hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng cường khả năng cạnh tranh và giảm thiểu tác động của các cú sốc kinh tế vĩ mô. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có xu hướng tập trung ở những cấp độ thấp hơn của chuỗi cung ứng, do các ngành công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế, trình độ kỹ thuật và nhân lực còn thấp và khả năng tiếp cận với các yếu tố sản xuất cũng hạn chế. Để có thể hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách hiệu quả, cần tăng cường thiết lập mạng lưới với các bên liên quan khác và xây dựng các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm khuyến khích sự gắn kết với các công ty lớn hơn và các công ty đa quốc gia, cùng với đổi mới công nghệ, cải thiện kỹ năng và trình độ quản lý thông qua một hệ thống giáo dục và đào tạo nghề hiệu quả, tăng cường khả năng tiếp cận với các yếu tố sản xuất trong đó có tín dụng và đất, và khả năng tiếp cận minh bạch với thông tin về các kế hoạch đầu tư công và các cơ hội mua sắm.

Thiên tai và các thảm họa không do tự nhiên: Kinh tế học về công tác ngăn ngừa một cách hiệu quả

Mặc dù một số nơi ở Việt Nam có thể có nguy cơ bị động đất và cả sóng thần, nhưng thiên tai ở Việt Nam chủ yếu là liên quan đến khí hậu. Theo danh mục nguy cơ về khí hậu của hầu hết các quốc gia trên thế giới được xây dựng gần đây, trong giai đoạn 1990-2009 Việt Nam đứng thứ 5, với 457 người chết mỗi năm và thất thoát GDP (bình quân đầu người) trung bình hàng năm là 1,9 tỉ đô la Mỹ, tức là 1,3% GDP do các hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, mưa giông, và lũ lụt.

Hàng năm Việt Nam phải hứng chịu những trận bão lớn, những trận bão này có thể gia tăng cường độ và trở nên thất thường hơn do tác động của biến đổi khí hậu. Khả năng gây thiệt hại của chúng đang tăng lên nhanh chóng do mật độ dân số và kết cấu hạ tầng kinh tế có giá trị cao đang trở nên dày đặc hơn ở những vùng dễ bị thiên tai. Ví dụ, những hiện tượng thời tiết cực đoan trong giai đoạn 2001-2005 gây thiệt hại 2.571 tỉ đồng cho ngành giao thông vận tải do tác động của bão và lũ. Nếu xảy ra việc mực nước biển trung bình tăng thêm 1m thì 11.000 km đường bộ trên khắp cả nước có thể sẽ bị nhấn chìm.

Theo ước tính của ADB, đến năm 2050 biến đổi khí hậu sẽ làm giảm 1-3% GDP thực tế của Việt Nam, so với khi giả định không có biến đổi khí hậu. Ngân hàng Thế giới đã kết luận rằng do những tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp, tổng GDP của Việt Nam năm 2050 có thể bị giảm đi từ 0,7% đến 2,4%, tùy thuộc vào tình hình khí thải hiệu ứng nhà kính và mô hình biến đổi khí hậu nào sẽ diễn tiến. Bằng biện pháp mô hình hóa, Ngân hàng Thế giới cũng cho rằng đến năm 2050 lợi ích của các biện pháp thích nghi với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp sẽ lên đến 1,3-1,6% tổng GDP và do đó có thể bù đắp thiệt hại.

Các nghiên cứu của ADB và của Ngân hàng Thế giới xem xét không chỉ các thảm họa khí hậu nổi bật mà còn cân nhắc đến nhiều tác động khác nhau của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, các hiện tượng thiên tai cực đoan chắc chắn sẽ gây ra một phần lớn trong các thiệt hại trong tương lai, và do đó việc giảm nhẹ tác động của chúng sẽ đem lại những lợi ích lớn nhất, cả ở trước mắt và về lâu dài. Các biện pháp thích nghi được ưu tiên cao nhất cần là những hành động “không hối tiếc” sẽ đem lại lợi ích bất chấp những tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai mà chúng ta không thể dự đoán trước được một cách chính xác. Những hành động này bao gồm các sáng kiến tăng cường quản lý nguy cơ thiên tai tại cộng đồng, duy trì và nâng cấp hệ thống đê biển và hàng rào phòng thủ chống lũ lụt.

Quan trọng hơn, các hành động nhằm ứng phó với thảm họa khí hậu cần tập trung vào những đối tượng phụ nữ, nam giới, người già và trẻ em dễ bị tổn thương nhất. Việt Nam đã và đang thực hiện hỗ trợ cho những nhóm đối tượng này khi có thiên tai xảy ra, ví dụ như chuyển một số hộ gia đình nghèo đi khỏi những khu vực dễ bị thiên tai nhất. Tuy nhiên, các hệ thống bảo trợ xã hội và an sinh xã hội cần đề cập đầy đủ và chú trọng công tác ứng phó với các nguy cơ và tác động của thiên tai. Liên Hợp Quốc khuyến nghị rằng dự thảo Luật về Quản lý Nguy cơ Thiên tai tới đây cần nhấn mạnh điểm này và quy định quyền của những người dễ bị tác động nhất, ví dụ quyền được sơ tán và chăm sóc sức khỏe kịp thời.

Cần phải có cơ sở hạ tầng xã hội có thể chịu được các điều kiện khí hậu. Ví dụ, tất cả các trung tâm y tế và bệnh viện cần được xây dựng đảm bảo an toàn trước nhiều loại thiên tai và dễ tiếp cận đối với các y bác sỹ và bệnh nhân trong và ngay sau khi xảy ra thảm họa khí hậu. Tương tự như vậy, cần giảm thiểu việc dạy và học bị ngắt quãng do hậu quả của thiên tai qua việc đảm bảo rằng các trường học dễ tiếp cận và được xây dựng phù hợp ở vị trí phù hợp. Những biện pháp này cũng sẽ đem lại những lợi ích về mặt xã hội, cải thiện các kết quả phát triển con người, và được mong đợi sẽ giảm thiểu các tác động kinh tế trước mắt và lâu dài của những thảm họa khí hậu ngày càng khắc nghiệt mà Việt Nam đang phải trải qua.

Chống tham nhũng trong ngành công nghiệp khai khoáng

Cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành công nghiệp khai khoáng

Ngành công nghiệp khai khoáng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam trong suốt hơn hai thập niên vừa qua. Việt Nam được thiên nhiên ban tặng hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, và mức độ đóng góp GDP của các loại khoáng sản này đã tăng từ 4,81% năm 1995 lên trên 10% trong các năm 2000 - 2008. Trong số này, dầu thô là khoáng sản quan trọng nhất và đóng góp đến khoảng 25% Ngân sách Nhà nước. Sự tăng trưởng nhanh chóng của các ngành công nghiệp khai khoáng đã chứng kiến sự nở rộ việc cấp phép và tăng đáng kể số lượng các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân hoạt động trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, các quy định liên quan chưa kịp ban hành, và cũng giống như ở bất cứ ngành nào khác, các nguy cơ và cơ hội cho nạn tham nhũng đang nở rộ. Ngành công nghiệp khai khoáng đã được công nhận là đặc biệt có nguy cơ xảy ra tham nhũng, do ngành này tạo ra các cơ hội và các ưu tiên khác liên quan đến tiền cho nạn tham nhũng ở cả cấp địa phương và trung ương, các đơn vị khai thác được khá nhiều tự do trong việc khai thác khoáng sản, và ngành này có một đặc điểm phổ biến là thiếu tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Luật Khoáng sản sửa đổi bổ sung tới đây là một bước đi có định hướng đúng do có vẻ như Luật này tương thích nhiều hơn với các luật và quy định có liên quan (VD Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, Công ước Hàng Hải), quy định rõ ràng hơn và trao ít quyền tự do hơn trong việc xây dựng chiến lược và kế hoạch về khoáng sản, bảo vệ khoáng sản, khảo sát khoáng sản, đấu giá quyền khai thác và giảm các thủ tục hành chính. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những bất cập và yếu kém quan trọng trong ngành công nghiệp khai khoáng, cùng với những hạn chế về năng lực trong hệ thống thanh tra của ngành.

Những thảo luận gần đây ở cấp độ chính sách và tại các kỳ họp của Quốc Hội đã cho thấy tầm quan trọng của ngành công nghiệp khai khoáng, từ khai thác quặng bô-xit đến vàng và dầu hỏa cả ở Việt Nam và trên thế giới. Những đặc điểm chung của ngành này tạo cơ hội và nguy cơ cho nạn tham nhũng, cũng như ở các ngành khác. Để giảm nguy cơ tham nhũng trong ngành khai thác khoáng sản, cải thiện đời sống của người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương, cần xem xét các khuyến nghị sau để giải quyết những nguy cơ hữu hình này: (i) cải thiện việc tiết lộ thông tin và tính minh bạch của công tác ra quyết định trong ngành khai khoáng, (ii) quản lý và xác định các trách nhiệm một cách rõ ràng và minh bạch, (iii) trách nhiệm giải trình lớn hơn liên quan đến công tác khai thác khoáng sản, và (iv) cải thiện công tác thanh tra, kiểm toán và thuế khóa, cùng các công tác liên quan khác.

Giải quyết những thiếu hụt này trong ngành công nghiệp khai khoáng cũng sẽ giúp giảm nguy cơ “giàu tài nguyên nhưng nghèo kinh tế” của Việt Nam và giảm mối liên hệ tiêu cực giữa sự tập trung của cải kiếm được nhờ công nghiệp khai khoáng, bất bình đẳng gia tăng và nghèo đói dai dẳng mà chúng ta đã thấy ở các quốc gia bị ảnh hưởng.

Hiệu quả viện trợ

Sáu tháng đầu năm 2011 đã chứng kiến việc triển khai thực hiện một số sáng kiến chủ chốt dưới sự bảo trợ của Diễn đàn Hiệu quả Viện trợ, với mục tiêu đảm bảo công tác lập kế hoạch và phân bổ nguồn Viện trợ Phát triển Chính thức (ODA) hiệu quả hơn ở Việt Nam trong bối cảnh môi trường viện trợ đang thay đổi trên khắp thế giới cũng như ở Việt Nam. Các sáng kiến này bao gồm việc xây dựng Khung Chiến lược ODA, sửa đổi bổ sung khung pháp lý ODA trong đó có Nghị định 131/2006/NĐ-CP, sáng kiến lập bản đồ các hoạt động hiệu quả viện trợ đang được tiến hành ở Việt nam, và giám sát việc thực hiện Tuyên bố Paris và Tuyên bố Hà Nội. Các sáng kiến này đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo một cách tiếp cận hài hòa hơn và hiệu quả hơn đối với ODA ở Việt Nam, và Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đã và đang rất tích cực hỗ trợ những nỗ lực này.

Liên Hợp Quốc hiện đang xây dựng Một Kế hoạch của LHQ cho giai đoạn 5 năm tới (2012-2016), với tinh thần nhất quán với các nguyên tắc của Tuyên bố Paris và Tuyên bố Hà Nội, cụ thể là phù hợp với các ưu tiên của quốc gia, đơn giản hóa và hài hòa hóa các thủ tục, thực hiện giám sát kết quả, chịu trách nhiệm chung và có trách nhiệm giải trình với nhau. Việc xây dựng Một Kế hoạch giai đoạn 2012-2016 của LHQ sẽ được chỉ đạo bởi Khung Chiến lược ODA, qua đó sẽ giúp LHQ xác định những lĩnh vực kỹ thuật, chuyên môn mà LHQ cần hỗ trợ trên cơ sở phù hợp với lợi thế so sánh của LHQ. Các sáng kiến lập bản đồ hiệu quả viện trợ sẽ thúc đẩy việc phối hợp hiệu quả hơn với các đối tác phát triển khác, đồng thời việc sửa đổi bổ sung Nghị định 131 sẽ tạo điều kiện cho LHQ cung cấp hỗ trợ một cách hài hòa và hiệu quả hơn. Một Kế hoạch của LHQ giai đoạn 2012-2016 sẽ được hoàn thiện vào cuối năm 2011.

Liên Hợp Quốc sẽ tiếp tục hỗ trợ đối thoại hiệu quả viện trợ tại Việt Nam, và trong nửa sau của năm 2011, LHQ sẽ tiếp nhận trách nhiệm đồng chủ tịch Ban Chấp hành Diễn đàn Hiệu quả Viện trợ cùng với Bộ KH&ĐT, sau khi Phần Lan hoàn thành trọng trách đồng chủ tịch của Ban Chấp hành kể từ tháng 1 năm nay. LHQ mong muốn được hợp tác chặt chẽ với Chính phủ và các đối tác phát triển nhằm thúc đẩy đối thoại hiệu quả viện trợ, và sẽ hỗ trợ những đóng góp của Chính phủ Việt Nam đối với Diễn đàn Cấp cao ở Busan vào tháng 11/2011.

Kết luận

Nhìn về phía trước, Chính phủ sẽ cần phải tiếp tục hành động một cách quyết đoán nhằm kìm chế lạm phát, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 và đảm bảo bảo trợ xã hội và trợ cấp xã hội đến được với những đối tượng cần nhất. Chính phủ sẽ cần phải tiếp tục tăng cường đấu tranh chống tham nhũng bất cứ khi nào tham nhũng xảy ra, dù là trên quy mô lớn như ở ngành công nghiệp khai khoáng hay là quy mô nhỏ hơn như trong các dịch vụ giáo dục và y tế. Các nỗ lực được thực hiện một cách nhất quán và liên tục nhằm lập kế hoạch và thích nghi với biến đổi khí hậu sẽ là yếu tố thiết yếu để có thể giảm nhẹ những hậu quả đáng kể của thiên tai.

Tăng cường tính minh bạch và khả năng tiếp cận với thông tin về chính sách của Chính phủ, trong đó có các biện pháp chống tham nhũng, và thực hiện bảo trợ và trợ cấp xã hội là những việc làm có tính then chốt đối với việc thúc đẩy niềm tin lớn hơn của công chúng, cũng giống như việc đảm bảo mọi người dân Việt Nam được có tiếng nói mạnh mẽ hơn và được tham gia trong các quá trình ra quyết định công. Ở góc độ này, Liên Hợp Quốc nhận thấy rằng tỷ lệ phụ nữ và đại biểu các dân tộc thiểu số có giảm đi đôi chút trong Quốc hội mới, và chúng tôi kêu gọi Chính phủ đảm bảo rằng có nhiều phụ nữ và đại diện các dân tộc thiểu số hơn nữa ở các vị trí ra quyết định quan trọng cấp cao của các cơ quan hành pháp và của Đảng.

Liên Hợp Quốc sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ Chính phủ Việt Nam giải quyết những thách thức trước mắt, cùng hành động để giải quyết các vấn đề thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, và tiếp tục đạt được các tiến bộ hướng tới phát triển xã hội và kinh tế trên diện rộng, đảm bảo công bằng cho tất cả mọi người, và phát triển bền vững.

Tiêu điểm

myhealth-myright_en.pdf.png

NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS NĂM 2017

 

Ngày 1 tháng 12 năm 2017

 

Michel Sidibé
Tổng Giám đốc UNAIDS
Phó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc

Kỷ niệm ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, chúng ta cùng nhau nêu bật tầm quan trọng của quyền về sức khỏe và những thách thức mà những người sống với HIV và người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV còn đang phải đối mặt trong việc thực hiện quyền về sức khỏe.


contest_680.jpg

Vì một hà nội vui sống, thiết kế không gian công cộng

Hà Nội ngày 17/10/2017 - Với mục tiêu cải thiện môi trường sống của người dân, đồng thời đưa văn hóa nghệ thuật đến với cộng đồng, hướng đến một tương lai đô thị tốt đẹp hơn, Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UN-Habitat) đã xây dựng dự án "Huy động nguồn lực cộng đồng và sự tham gia của giới trẻ trong kiến tạo không gian công cộng xanh, an toàn tại Quận Hoàn Kiếm" (sau đây gọi tắt là dự án Không gian công cộng) thuộc chương trình Block by Block của Văn phòng Trung ương UN-Habitat và công ty Mojang, nhà sáng lập ứng dụng Minecraft.


op-ed-juv-justice-390.jpg

Trừng phạt khắc nghiệt đối với trẻ em vi phạm pháp luật không ngăn chặn được tình hình tội phạm người chưa thành niên tiếp tục gia tăng

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đang được tranh luận trong quá trình sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình sự. Một số người tranh luận rằng phương thức tiếp cận "cứng rắn với tội phạm" là cần thiết để trừng phạt trẻ em nhằm phòng ngừa tình trạng phạm tội tiếp diễn.

Tuy nhiên, nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng do trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển, việc gán cho trẻ em và đối xử với trẻ em như những tội phạm ở độ tuổi nhỏ có thể tác động tiêu cực nghiêm trọng đến sự phát triển và khả năng cải tạo, phục hồi thành công của trẻ.


rc_ai_new_year_card_300.jpg

New Year Greetings from the United Nations Resident Coordinator a.i. in Viet Nam

 

On the occasion of New Year 2017, on behalf of the United Nations family in Viet Nam I wish to reiterate our appreciation and express our warmest wishes to our partners and friends throughout the country. We wish our partners and their families in Viet Nam peace, prosperity, good health and happiness in the coming year.

As we enter the second year of the Sustainable Development Goals era, we look forward to continuing our close cooperation for the sake of Viet Nam’s future development; one which is inclusive, equitable and sustainable, with no one left behind.

Youssouf Abdel-Jelil
United Nations Resident Coordinator a.i. in Viet Nam


WAD2016.jpg

Thông điệp của Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-moon nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS, 1 tháng 12

 

Ngày hôm nay, 35 năm sau khi AIDS xuất hiện, toàn thế giới đã có thể tự hào khi nhìn lại các nỗ lực phòng chống dịch. Nhưng chúng ta cũng phải hướng về phía trước với quyết tâm và cam kết chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030.

Thế giới đã đạt được những bước tiến thực sự to lớn. Số người được điều trị HIV đã tăng cao hơn bao giờ hết. Kể từ năm 2010, số trẻ em bị nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ đã giảm một nửa. Cứ mỗi năm số người tử vong do AIDS lại giảm thêm. Và những người nhiễm HIV đang ngày càng có tuổi thọ dài hơn.



RSS Email Subscription

Enter your email address: