Tổng quan những thách thức chủ yếu
GIẢM NGHÈO VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
Theo chuẩn nghèo quốc tế (GSO – VHLSS), tỷ lệ nghèo đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004. Theo chuẩn nghèo của Việt Nam, tỷ lệ nghèo giảm từ 18% năm 2001 xuống còn 7% năm 2005 (xem SEDP). Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo vẫn còn cao và số hộ cực nghèo vẫn tập trung nhiều ở các vùng xa xôi, hẻo lánh và và vùng dân tộc thiểu số. Khoảng cách giàu nghèo và sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị đang tăng lên. Tốc độ gia tăng việc làm không đủ để đáp ứng nhu cầu của 1,4 triệu người dự kiến sẽ tham gia lực lượng lao động mỗi năm. Việc giải quyết tình trạng đói nghèo cùng cực đòi hỏi phải có các chương trình và chính sách riêng cho từng khu vực, địa phương và nhóm người. Giúp đỡ người dân thoát nghèo trở nên ngày càng quan trọng khi chiến lược giảm nghèo sẽ từng bước được thay thế bởi chiến lược chính sách xã hội nhằm giải quyết các nguy cơ đối với cuộc sống như ốm đau.
Khu vực tư nhân trong nước ngày càng trở thành động lực chính của tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và qua đó góp phần giảm nghèo. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2006 và các Hiệp định thương mại-đầu tư quốc tế khác sẽ thúc đẩy hoạt động của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, một số nhóm người sẽ được hưởng lợi nhiều hơn những nhóm khác và cạnh tranh quốc tế có thể sẽ gây ra những chi phí kinh tế lớn đối với một số ngành nghề và nhóm người. Chính phủ cần phải bảo vệ những người chịu tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế thông qua việc phát triển mạng lưới an sinh xã hội và các chính sách phụ trợ bao gồm đào tạo, giáo dục hướng nghiệp và các chương trình ngành/vùng, và ngăn chặn hệ thống giáo dục và y tế theo tiêu chuẩn kép do phụ thuộc vào việc thu phí và tiền túi của người sử dụng.
Mặc dù tỷ lệ tăng dân số đang giảm dần trong thập kỷ trước, song dân số vẫn tăng 1,37% năm 2005. 73% trong số 83 triệu người (2005) sống tại các vùng nông thôn và hơn một nửa dân số ở độ tuổi dưới 25. Tuổi thọ trung bình là 71,7 đối với nam giới và 75 đối với nữ giới. Tỷ lệ sinh giảm từ 2,33 trẻ/phụ nữ năm 1999 xuống còn 2,09 trẻ/phụ nữ năm 2006. Tỷ lệ tránh thai năm 2006 đạt 78% áp dụng tất cả các biện pháp và 67% áp dụng các biện pháp hiện đại. Nữ thanh niên đang đứng trước nguy cơ cao của việc có thai ngoài ý muốn, nạo thai không an toàn và lây nhiễm qua quan hệ tình dục, bao gồm cả lây nhiễm HIV.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2002, tỷ lệ tử vong của bà mẹ là 95 trong số 100.000 trẻ mới sinh. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Bộ Y tế được tiến hành tại 7 vùng địa lý cho thấy tỷ lệ này là 165 trong số 100.000 trẻ mới sinh, và con số này cao hơn rất nhiều tại khu vực miền núi và vùng xa xôi hẻo lánh. Mức độ hỗ trợ người phụ nữ trong lúc sinh có ảnh hưởng quan trọng đối với sức khoẻ của cả mẹ và con. Theo DHS (2002), trong khi 85% ca sinh ở Việt Nam được tiến hành với sự giúp đỡ của những người có chuyên môn y tế thì con số này lại thấp hơn nhiều tại một số tỉnh như vùng núi phía Bắc (chỉ 60%). Tỷ lệ lây nhiễm qua đường sinh sản (RTIs) cũng cao. Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 5 và Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) nhấn mạnh sự cần thiết phải thu hẹp khoảng cách về tỷ lệ tử vong bà mẹ tại các nước và giữa các vùng địa lý trong một nước và trong các nhóm người dân tộc và kinh tế xã hội khác nhau.
Mặc dù đạt được những tiến bộ trong sức khoẻ sinh sản (RH) và bình đẳng giới (GE) nhưng vẫn tồn tại khoảng cách. Đó là việc thiếu niên, thanh niên, người di cư, dân tộc thiểu số và những người sinh sống tại vùng xa, vùng thiểu số còn thiếu tiếp cận các dịch vụ và thông tin về sức khoẻ sinh sản nhạy cảm về giới tính; nhiều điểm cung cấp dịch vụ y tế không đáp ứng được các Tiêu chuẩn Quốc gia về Sức khoẻ Sinh sản và các Quy định Lâm sàng (NRHSCG); phần lớn người dân vẫn còn có các hành vi y tế không an toàn; bao cao su chưa được sử dụng rộng rãi; và thiếu các số liệu cập nhật về dân số, sức khoẻ sinh sản và giới, và việc sử dụng các số liệu này còn hạn chế; và cần thiết phải nâng cao năng lực ở tất cả các cấp về xây dựng kế hoạch, điều phối, giám sát và đánh giá các chương trình dân số và sức khoẻ sinh sản.
Số người bị nhiễm HIV đang tăng lên nhanh chóng. Tỷ lệ bị nhiễm trong độ tuổi từ 15-49 ước tính là 0,53% (Bộ Y tế, 2006). Tuy nhiên, con số này cao hơn nhiều trong một số nhóm người, ví dụ như nhóm người sử dụng ma tuý là 34%, người hành nghề mãi dâm là 6,5%, người đồng tính luyến ái, và những người có quan hệ tình dục với người hành nghề mãi dâm. Một nửa trong số những người mới nhiễm HIV trong độ tuổi 20-30 tuổi. Nhiều phụ nữ bị lây nhiễm từ chồng hơn là từ hoạt động bán dâm hay tiêm trích ma tuý. HIV cũng là mối đe doạ nghiêm trọng đối với trẻ em. Sự thay đổi kinh tế xã hội đã làm gia tăng tỷ lệ di cư giữa các vùng. Phần lớn người di cư, đặc biệt là phụ nữ, trong độ tuổi sinh sản và rất dễ bị tổn thương trước các nguy cơ đối với sức khoẻ sinh sản, bao gồm cả nguy cơ lây nhiễm HIV.
Năm 2004, Chính phủ đã phê chuẩn Chiến lược Quốc gia về Phòng chống và Kiểm soát HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2010 với tầm nhìn đến năm 2020. Chiến lược này đã tạo khuôn khổ chiến lược và chính sách tổng thể cho các hoạt động của quốc gia về phòng chống, điều trị, chăm sóc và hỗ trợ. Chiến lược trên cũng giải quyết vấn đề phân biệt đối xử và miệt thị người nhiễm đồng thời thúc đẩy việc chấp nhận người bị nhiễm HIV. Hiện nay, Chính phủ cần tăng cường sự lãnh đạo quốc gia, nâng cao năng lực, khả năng điều phối và áp dụng cách tiếp cận đa lĩnh vực và nhạy cảm về giới nhằm bảo đảm thực hiện thành công những mục tiêu tham vọng nêu trong Chiến lược Quốc gia.
TRẺ EM VÀ THANH NIÊN
Tình hình trẻ em và thanh niên đã được cải thiện nhanh chóng. Tỷ lệ tiêm chủng và bổ sung vitamin A cao, bổ sung muối iốt phổ biến mọi nơi, xoá bỏ bệnh bại liệt và bệnh uốn ván ở bà mẹ và trẻ sơ sinh. Tỷ lệ trẻ chết trước 5 tuổi là 23 trong số 100.000 trẻ, tuy nhiên tỷ lệ này cao đáng báo động tại các vùng dân tộc thiểu số và 50% trẻ tử vong trong lúc sinh. Suy dinh dưỡng vẫn tiếp tục là mối lo ngại khi 27% trẻ dưới 5 tuổi trong tình trạng thiếu cân. Tình trạng bị tổn thương ở trẻ em, chết đuối và tai nạn giao thông là những vấn đề đang nổi lên dẫn đến nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở trẻ em.
Kết quả khảo sát đánh giá toàn diện về thanh niên Việt Nam (SAVY, 2003-2004) cho thấy những cách biệt xã hội lớn trong giới trẻ và nhấn mạnh những nhu cầu cụ thể của các dân tộc thiểu số và nữ thanh niên. Những thay đổi về kinh tế xã hội bao gồm tình trạng di cư đang tăng và áp lực về cơ cấu gia đình góp phần tạo ra môi trường trong đó tình trạng bóc lột kinh tế và lạm dụng tình dục ở trẻ em, buôn lậu và bạo lực và tình trạng dễ lây nhiễm HIV ngày một tăng.
36% dân số và 56% lực lượng lao động là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30. Chất lượng cuộc sống của họ phụ thuộc vào việc tăng cơ hội được giáo dục ở trình độ cao hơn, cơ hội việc làm, tham gia vào đời sống cộng đồng, và cơ hội được bảo vệ khỏi những nguy cơ bị bóc lột và các nguy cơ kinh tế xã hội.
Việt Nam là nước tương đối đi đầu về bình đẳng giới trong khu vực và có tiếng về thúc đẩy bình đẳng giới thông qua khuôn khổ pháp lý và chính sách mạnh. Việc triển khai Kế hoạch Hành động của Chính phủ về sự Tiến bộ của Phụ nữ (2006-2010), luật pháp và các cam kết về bình đẳng giới quốc tế và ở cấp quốc gia vẫn còn là thách thức lớn nhất đối với bình đẳng giới. Chính phủ và các tổ chức xã hội đang làm việc để giải quyết các vấn đề ưu tiên, nhất là bạo lực giới, sự bất bình đẳng trong thụ hưởng các chế độ, cơ hội việc làm và giáo dục Bạo lực giới và bạo lực gia đình tác động chủ yếu tới phụ nữ và trẻ em. Dự thảo luật về Bạo lực gia đình đã được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2007.
Luật Bình đẳng giới mới được thông qua năm 2006 sẽ nhằm bảo đảm phân công lao động một cách cân bằng về giới, bao gồm cả các quyền bình đẳng trong công việc, việc làm với mức lương và sự nghiệp cao hơn cho phụ nữ và trẻ em gái. Hiện nay, trong một số hoàn cảnh, phụ nữ vẫn làm việc nhiều giờ hơn nam giới và được trả lương thấp hơn. Gánh nặng nhân đôi của công việc kiếm sống và công việc gia đình làm cho người phụ nữ có ít thời gian nghỉ ngơi hơn nam giới và kém năng động hơn trong cuộc sống chính trị xã hội.
Trong khi tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các chức vụ quản lý và chính trị đang được cải thiện thì đại diện phụ nữ tại tất cả các cấp hành chính, đặc biệt ở địa phương và tỉnh thành vẫn ở mức thấp. Tương tự như vậy, bất bình đẳng giới vẫn thể hiện ở cấp trung và cao học và một số sách giáo khoa tại các trường học vẫn thể hiện một số định kiến chung về giới.
Bất bình đẳng giới diễn ra nhiều hơn tại các vùng xa và trong những nhóm người dân tộc thiểu số. Trên cả nước, trẻ em gái và trai đều được hưởng quyền đi học tiểu học, nhưng tại một số nhóm người dân tộc thiểu số đã xảy ra hiện tượng bất bình đẳng giới. Ngoài ra, với những dịch vụ xã hội khác nhau, tình trạng bất bình đẳng giới vẫn chưa được giải quyết tốt và người phụ nữ vẫn bị thiếu thông tin và các dịch vụ xã hội nói chung. Đồng thời cũng không đủ cơ sở dữ liệu theo độ tuổi, giới tính và những nghiên cứu có cơ sở về các vấn đề giới.
Giai đoạn 2 của Chương trình Tổng thể về Cải cách Hành chính sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ cải cách; nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của hệ thống Chính phủ; và tăng cường phân cấp. Việt Nam đã bắt đầu chương trình phân cấp tài chính và hành chính tham vọng, và điều này đã tạo ra áp lực đối với khả năng xây dựng kế hoạch, ngân sách và triển khai của Chính phủ ở tất cả các cấp.
Bầu cử Quốc hội được tổ chức năm 2007 nhằm lựa chọn các đại biểu Quốc hội và số lượng người làm đại biểu quốc hội chuyên trách đã tăng lên. Quốc hội và Hội đồng nhân dân đã được củng cố với một khuôn khổ lập pháp mở rộng, và có vai trò lớn hơn trong quá trình xây dựng và giám sát luật. Các động thái chính trị về vai trò của Quốc hội và quá trình phân cấp đã mang lại cơ hội để thực hiện và giám sát quyền của trẻ em, phụ nữ và dân tộc thiểu số. Kết quả là, nhu cầu đối với các thể chế này ngày một tăng. Năng lực của các cơ quan đại diện này cần được mở rộng nhằm đáp ứng những nhu cầu trên.
Chiến lược Phát triển Hệ thống Lập pháp và Cải cách Tư pháp đã đưa đến những cơ hội và thách thức lớn đối với việc củng cố lập pháp và tăng khả năng tiếp cận tư pháp.
Còn nhiều việc phải làm, trong đó bao gồm xây dựng năng lực địa phương; chống tham nhũng; nâng cao vai trò của truyền thông đại chúng; và tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế. Khuôn khổ thể chế và pháp lý đối với phát triển xã hội dân sự và sự tham gia của người dân, trách nhiệm giải trình và minh bạch hoá tại tất cả các cấp vẫn chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Cần phải phát triển năng lực nhằm bảo đảm rằng Chính phủ đáp ứng một cách đầy đủ. Tăng cường quản trị dân chủ là một điều kiện tiên quyết đối với đất nước nhằm ứng phó hiệu quả những thách thức phát triển đang nổi lên.
DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRƯỚC THẢM HOẠ THIÊN TAI
Việt Nam dễ bị thảm hoạ thiên tai như bão lớn, lũ lụt, hạn hán, lở đất, cháy rừng, sự xâm lấn của nước mặn là những nguy cơ xảy ra thường xuyên, đặc biệt đối với trẻ em, phụ nữ và người cao tuổi. Những người nghèo nhất trong xã hội là những người dễ bị tổn thương nhất trước các thảm hoạ tự nhiên. Hơn một triệu người cần được cứu trợ khẩn cấp hàng năm.
Nghiên cứu về các mô hình thay đổi khí hậu dự báo rằng Việt Nam là một trong số các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới, do mực nước biển tăng và do những thảm hoạ tự nhiên như bão lớn, lũ lụt và hạn hán sẽ diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn. Kế hoạch hiệu quả, sẵn sàng ứng phó và đầu tư công là cần thiết nhằm giảm thiểu các tác động xấu của thảm hoạ thiên nhiên và thích ứng với thực tế của thay đổi khí hậu.
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ MẶT MÔI TRƯỜNG
Việt Nam đã tiến hành những bước đi quan trọng nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý và chính sách đối với phát triển bền vững về môi trường. Có 3 ví dụ là: (i) Định hướng chiến lược cho Phát triển bền vững (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam); (ii) Nghị quyết của Đảng về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; và (iii) Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi. Việt Nam cũng đạt được nhiều bước tiến hướng tới các Mục tiêu Thiên niên kỷ, bao gồm cả mục tiêu cung cấp nước.
Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm nhằm thực hiện Luật môi trường, các chiến lược và hiệp ước toàn cầu, và tăng cường quản lýị môi trường với mục đích nhằm bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ không dẫn đến sự xuống cấp môi trường, rủi ro sức khoẻ cao hơn hoặc sự sụt giảm tính đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên khác. Năng lực của tất cả các cấp cần được củng cố, các công nghệ có lợi cho môi trường cần được giới thiệu và phổ biến trong cả khu vực nhà nước và tư nhân, cần hệ thống hoá và tăng cường sự phối hợp giữa các hoạt động có lợi cho môi trường với việc giảm nghèo và phát triển xã hội.



