Việt Nam nằm ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương với tổng diện tích 329.314 km2 và đường biển khoảng 3.200 km trải dài từ Bắc đến Nam.Năm 2005, dân số Việt Nam là 83,2 triệu người, trong đó tỷ lệ nữ giới chiếm 51,2%. Tỷ lệ tăng dân số trung bình là 1,4% năm, dân số trong độ tuổi lao động là 43,6 triệu người, chiếm 52% tổng dân số. Tuổi thọ trung bình là 71,3 năm. Mật độ dân số là 252 người/km2 và dân số thành thị chiếm khoảng 27,2% tổng dân số.
Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau cùng sống trong bình đẳng và đoàn kết cùng nhau chung sức phát triển quốc gia. Việt Nam có 64 tỉnh và thành phố. Hà Nội là thủ đô với dân số 3,1 triệu người.
GDP bình quân đầu người năm 2004 là khoảng 560 USD. Sau khi thống nhất năm 1975, Việt Nam đã chuyển sang tập trung tái thiết và phát triển đất nước nhằm đảm bảo người dân có thể sống trong độc lập, tự do và thực hiện các quyền mưu cầu hạnh phúc như được ghi trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1945.
Tuy nhiên, do sự tàn phá khốc liệt của nhiều năm chiến tranh, môi trường quốc tế thù địch và sự yếu kém chính sách, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua khủng hoảng kéo dài trong những năm 70 và 80. Để vượt qua những khó khăn đó, quá trình Đổi mới đã được khởi xướng năm 1986 với những nội dung chính sau đây:
- Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên sở hữu nhà nước sang một nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên thị trường;
- Dân chủ hoá đời sống xã hội thông qua việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân;
- Tăng cường hợp tác quốc tế trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Quá trình Đổi mới đã tạo ra nhiều cơ hội phát triển và tăng cường năng lực quốc gia để có thể tận dụng tốt các cơ hội phù hợp với đặc thù, giá trị và tư tưởng văn hoá của đất nước. Công cuộc Đổi mới đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong sự phát triển kinh tế-xã hội và con người tại Việt Nam.
Tiếp theo thành công trong thực hiện Chiến lược Ổn định và Phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1991-2000, Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới nhằm thúc đẩy tiến bộ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Hiện tại, Việt Nam đang thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 nhằm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, cải thiện đời sống vật chất, xã hội và văn hoá của người dân, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thiết lập nền tảng cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hoá hiện đại vào năm 2020.
Dựa trên Mục tiêu phát triển Thiên nhiên kỷ và định hướng phát triển riêng của đất nước, Việt Nam đã thiết lập 12 mục tiêu phát triển riêng (được gọi là Mục tiêu phát triển Việt Nam, viết tắt là VDGs) bao gồm các mục tiêu giảm nghèo và xã hội đến năm 2010.
VDGs vừa thể hiện đầy đủ các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đồng thời tính đến những đặc thù phát triển riêng tại Việt Nam. VDGs được lồng ghép vào các chương trình và chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia và cũng được cụ thể hoá thành các mục tiêu chi tiết. VDGs tạo cơ sở thực hiện MDGs một cách kịp thời và hiệu quả. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn kiện hướng dẫn việc thực hiện MDGs và VDGs. Các tài liệu đó bao gồm Chiến lược Tăng trưởng và Giảm nghèo toàn diện (được phê chuẩn năm 2002) và Định hướng Chiến lược Phát triển Bền vững (còn được gọi là Chương trình nghị sự Việt Nam 21 ban hành năm 2004). Một loạt chương trình kinh tế và xã hội cũng được thiết lập trên toàn quốc.
Trong giai đoạn 1990-2004, GDP của Việt Nam tăng gần gấp 3 lần; tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7,5%; tỷ lệ các hộ gia đình nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 24% năm 2004; nguồn lực trong nước cho phát triển được mở rộng; quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là thương mại quốc tế và thu hút FDI liên tục tăng lên liên tục; điều kiện vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện; tình hình chính trị và xã hội được giữ vững.
Những thành công này chủ yếu bắt nguồn từ nỗ lực của chính phủ và người dân Việt Nam trong việc sử dụng tối đa nguồn lực trong nước, khuyến khích tinh thần sáng tạo và thay đổi tư duy. Sự hỗ trợ của cộng đồng tài trợ quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng cả về nguồn lực và kinh nghiệm của các tổ chức song phương và đa phương bao gồm cả các cơ quan Liên Hợp Quốc.
Những thách thức hiện nay
Tuy nhiên, những thách thức lớn vẫn còn tồn tại, trong đó có những thách thức mới xuất hiện trong những năm gần đây. Sự tăng trưởng kinh tế gắn kết với sự gia tăng mức độ bất bình đẳng đặc biệt là khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị càng xa. Tỷ lệ đói nghèo còn cao, đặc biệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số vốn chiếm 14% dân số và sống chủ yếu tại các vùng cao xa xôi. Khoảng 90% người nghèo sống ở khu vực nông thôn.
Mặc dù có những tiến bộ về sức khoẻ sinh sản và bình đẳng giới, nhưng vẫn tồn tại những khoảng trống đáng kể. Đó là người dân sống ở vùng sâu còn thiếu sự tiếp cận thông tin và dịch vụ sức khoẻ sinh sản nhạy cảm về giới và một bộ phận lớn dân cư vẫn có các hành vi y tế không an toàn. Những thiếu nữ trẻ có nguy cơ có thai ngoài ý muốn khá cao cũng như hành vi nạo phá thai không an toàn và mắc các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục, bao gồm cả HIV. Ở tầm quốc gia, số người nhiễm HIV đang tăng nhanh. Sự thay đổi kinh tế và xã hội đã góp phần dẫn đến sự gia tăng làn sóng di cư trong nước. Do đa số những người di cư, đặc biệt là phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản nên họ rất dễ chịu rủi ro liên quan đến sức khoẻ sinh sản, bao gồm cả nhiễm HIV.
Trong khi tỷ lệ nữ tham gia các vị trí quản lý và chính trị tăng lên thì mức độ đại diện của phụ nữ còn rất hạn chế tại tất cả các cấp quản lý, đặc biệt là tại cấp tỉnh và địa phương. Cần có nhiều nỗ lực hơn nữa trong việc xây dựng năng lực để có sự quản trị tốt hơn; đấu tranh chống tham nhũng; tăng cường vai trò của báo chí; và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh doanh.Vẫn chưa tạo dựng đầy đủ các khuôn khổ thể chế và luật pháp để tạo điều kiện cho sự tham gia nhiều hơn của người dân và sự phát triển xã hội dân sự, trách nhiệm giải trình và minh bạch tại tất cả các cấp.
Việt Nam là nước chịu nhiều thiên tai bao gồm bão, lụt, hạn hán, lở đất và cháy rừng trong đó những người nghèo nhất trong xã hội là đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Hơn 1 triệu người cần có sự hỗ trợ khẩn cấp hàng năm. Các mô hình thay đổi khí hậu dự báo rằng Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới. Cuối cùng, cần nỗ lực hơn nữa trong việc tuân thủ các luật môi trường, các chiến lược và thỏa ước toàn cầu và cải thiện năng lực quản lý môi trường nhằm đảm bảo rằng sự tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ không dẫn đến sự xuống cấp môi trường, những rủi ro lớn hơn đối với sức khoẻ hoặc sự sụt giảm nhanh chóng của hệ thống đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên khác.
Chiến lược phát triển Việt Nam
Để vượt qua những thách thức này và những vấn đề liên quan khác, chiến lược phát triển của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã được đưa ra trong Chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội 10 năm do Chính phủ và Đảng Cộng sản đưa ra năm 2001 và các kế hoạch 5 năm và các kế hoạch phát triển ngành được xây dựng trên cơ sở các kế hoạch đó. Chiến lược và các kế hoạch đó được xây dựng dựa trên các cuộc tham vấn quốc gia thông qua các tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và các cam kết quốc tế khác đã tạo chuẩn mực nhất quán để đánh giá những tiến bộ mà Việt Nam có thể đạt được.
Để có thêm thông tin về sự hợp tác giữa LHQ với Chính phủ Việt Nam và các đối tác khác trong việc giải quyết các vấn đề này, xem thêm thông tin về LHQ tại Việt Nam.



